Monthly Archives: Tháng Bảy, 2013

Tây Tiến (Quang Dũng)

391269_431392030235433_1397363105_n

 

Tây Tiến

 

“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy, con người ấy

Vẫn sống muôn đời với núi sông”

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

– Vị trí: Gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại.

– Sự nghiệp: Người nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc

– Phong cách: hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.

2. Tác phẩm

– Giới thiệu về đoàn quân Tây Tiến:

+ Thời gian thành lập: mùa xuân 1947

+ Nhiệm vụ và địa bàn hoạt động:

* Địa bàn hoạt động rộng: trải dài từ Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình tới Tây Thanh Hóa và sang cả vùng biên giới Việt Lào. Không chỉ rộng về phạm vi hoạt động, địa bàn chiến đấu của những người lính Tây Tiến là vùng núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, thơ mộng, mới lạ (trong mắt những chàng trai Hà Thành) vừa hoang vu, hiểm trở, đầy thử thách.

* Nhiệm vụ: Đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

+ Thành phần xuất thân: Phần đông là thanh niên, học sinh thủ đô.

+ Phẩm chất của lính Tây Tiến: Đó là những thanh niên trẻ trung, ngàng tàng, đầy nhiệt huyết và giàu lòng yêu nước, sẵn sàng đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, cầm súng chiến đấu, bảo vệ biên cương. Đồng thời, đó cũng là những chàng trai Hà Thành với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ và rất đỗi hào hoa.

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được sáng tác năm 1948, tại một ngôi làng nhỏ ven sông Đáy (Phù Lưu Chanh) thuộc tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Lúc này Quang Dũng đã xa đơn vị, xa đồng đội. Nhớ về Tây Tiến với những kỉ niệm xúc động, hào hùng, nhà thơ đã viết nên một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại – bài thơ Tây Tiến.

– Nhan đề tác phẩm: ban đầu nhà thơ đặt tên cho tác phẩm của mình là “Nhớ Tây Tiến” sau này in lại nhà thơ sửa lại thành “Tây Tiến”. Bớt đi một chữ, nhan đề được ngắn gọn, cô đọng hơn đồng thời mở ra những trường liên tưởng, cảm xúc mới mẻ cho người đọc: không chỉ nhớ mà còn thương, còn yêu, còn thủy chung gắn bó, còn xúc động tự hào, còn thề nguyền hẹn ước … Bao nhiêu là cảm xúc kết đọng trong một từ ngữ, một cái tên gắn liền với hình ảnh đoàn binh đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc.

– Bố cục: 4 đoạn

+ 14 câu đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

+ 8 câu tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương nơi núi rừng miền Tây

+ 8 câu tiếp: Bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến

+ 4 câu cuối: Lời ước hẹn thủy chung


II. PHÂN TÍCH

1. 14 câu thơ đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

– Hai câu thơ đầu: Dẫn dắt người đọc bước vào không gian của cảm xúc, của kỉ niệm và của nỗi nhớ “chơi vơi” không nói hết thành lời:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

+ Câu thơ đầu mang hình thức câu cảm thán, là một tiếng gọi trong tha thiết nhớ thương. Câu thơ nhiều thanh bằng, kết hợp với vần “ơi” (âm mở) tạo âm vang trầm buồn, da diết, mênh mang của cõi nhớ. Những cái tên(sông Mã, Tây Tiến) vang lên gần gũi, thân thương thông qua biện pháp nhân hóa.

+ Câu thơ thứ hai: phép điệp từ “nhớ” nhấn mạnh cảm xúc chủ đạo chi phối toàn bài thơ. Nỗi nhớ có đối tượng, có sắc thái. Từ láy “chơi vơi” diễn tả chính xác cảm giác của nhà thơ, sắc thái của nỗi nhớ: da diết, mênh mang, hụt hẫng, thẳm sâu. Nỗi nhớ vốn vô hình, vô ảnh nhưng lại được khắc họa bằng một từ láy tượng hình ấn tượng.

– 12 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây và người lính Tây Tiến

a. Kí ức về thiên nhiên miền Tây

* Sương miền Tây

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

+ Các địa danh Mường Lát, Sài Khao và còn nhiều cái tên đất, tên làng, tên sông, tên núi đã gợi lên sự hoang vu, xa ngái của vùng đất miền biên viễn vừa chứa ẩn nhiều thử thách hiểm nguy, vừa gọi mời khám phá.

+ Từ “lấp” cho thấy sương rất dày, đặc gợi cảm giác về sự lạnh lẽo. Như một hệ quả tất yếu của thiên nhiên, đoàn quân hiện ra trong màn sương lặng lẽ, mệt mỏi, dãi dầu.

+ Từ “hoa” có nhiều cách hiểu. Có thể là hoa hương nơi núi rừng Tây Bắc. Cũng có thể là cách nói ẩn dụ của ngọn đuốc trên đường hành quân. Nhưng dù theo nghĩa nào, người đọc đều cảm nhận được tâm hồn tài hoa, tư chất nghệ sĩ lãng mạn của những người lính Tây Tiến.

* Dốc núi miền Tây

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

+ Nhịp ngắt 4/3 kết hợp với phép điệp từ “dốc” làm hiện ra trước mắt người đọc trùng điệp những dốc núi. Câu thơ nhiều thanh trắc (5/7) gợi sự gập ghềnh, nhọc nhằn của đường đi. Hai từ láy gợi cảm “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” là cái ngước nhìn của người leo dốc, thu về cả cận cảnh và viễn cảnh để nhận ra đoạn đường phía trước hun hun đến không cùng (lấy sâu để tả cao).

+ Từ láy “heo hút” cùng phép đảo ngữ thể hiện cái vắng vẻ, cao chót vót và xa đến không cùng. Động từ “ngửi” được nhân hóa: ngọn súng như đang tò mò, thám hiểm bầu trời, trêu đùa với tạo hóa. Qua đó làm hiện lên hình ảnh của người lính trên nền thiên nhiên hùng vĩ: trẻ trung, ngang tàng, tếu táo, mạnh mẽ, kiên cường.

+ Điệp từ “ngàn” là sự định lượng mang tính ước lệ, thể hiện sự hùng vĩ của thiên nhiên dốc núi miền Tây đồng thời hứa hẹn những khó khăn, thử thách cho người lính. Nhịp thơ 4/3 bẻ gãy câu thơ làm đôi kết hợp với động từ thể hiện sự chuyển động ngược hướng “lên – xuống” đã diễn tả sự cheo leo, chênh vênh, sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của những dốc núi miền Tây.

* Mưa miền Tây

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

+ Câu thơ nhiều thanh bằng với những âm tiết mở diễn tả không gian mênh mông trải rộng trong màn mưa và cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản của người chiến sĩ sau những chặng đường hành quân vất vả. Phép ẩn dụ, liên tưởng độc đáo “mưa xa khơi” diễn tả không gian bồng bềnh trong màn mưa rừng khiến cả thung lũng trở thành đại dương mênh mông còn những ngôi nhà như những con thuyền nhỏ bồng bềnh trôi trong đại dương ấy.

* Núi rừng miền Tây

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

+ Phép nhân hóa (“gầm thét”, “trêu người”) cho thấy sự dữ dội, hoang sơ, bí hiểm đầy đe dọa.

+ Điệp từ “chiều chiều”, “đêm đêm” cho thấy sự vĩnh hằng, trường cửu.

+ Sự đối lập về âm thanh và hình ảnh: cái gầm vang của thác lũ với cái im lặng đến nghẹt thở của khoảnh khắc chúa sơn lâm rình mồi, cái oai linh nơi vòm cao thăm thẳm hay bước đi nặng nề của mãnh thú nơi vòm thấp tối đều là những mối đe dọa đến sự sống nhỏ nhoi, yếu đuối của con người.

=> Vừa thấy được sự hiểm nguy, vừa cảm phục lòng dũng cảm của những người lính Tây Tiến.

 

b. Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân.

– Kí ức về người lính trên đường hành quân gian khổ:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

+ Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả, nhọc nhằn, gian khổ mà người lính phải chịu đựng. “Không bước nữa”, “bỏ quên đời” có thể được hiểu theo nhiều cách: một khoảnh khắc nghỉ ngơi, nỗi mệt mỏi đến kiệt sức không thể tiếp tục hay thậm chí là cái chết. Hiểu theo nghĩa nào thì người đọc cũng vẫn nhận ra nỗi vất vả gian truân của người lính trên những chặng đường hành quân chiến đấu.

+ Các nói giảm, nói tranh (không bước nữa, bỏ quên đời), cách nói phủ định cho thấy sự chủ động của người lính, kể cả khi mệt mỏi đến tận cùng, kể cả khi đối diện với cái chết thể hiện sự ngang tàng, ngạo nghễ, chấp nhận cái chết một cách nhẹ nhõm, thanh thản. Nhà thơ không né tránh những mất mát, hi sinh (vì nó là một phần tất yếu của chiến tranh).

+ Ngòi bút miêu tả của nhà thơ lùi xa, ghi lại những nét biểu hiện bên ngoài của người chiến sĩ. Nhưng người đọc nhận ra, bên trong cái vẻ bất cần, mỏi mệt, kiệt sức kia là cả một ý chí, là sự dũng cảm, là tinh thần chấp nhận hi sinh, là tấm lòng yêu quê hương đất nước.

– Kỉ niệm về một lần dừng chân trên đường hành quân.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

+ Sự phối hợp của nhiều giác quan (thị giác, xúc giác, khứu giác) cho thấy sự ấm áp, thơm thảo của tình quân dân.

+ Một tập hợp từ độc đáo: “mùa em”. “Mùa” là từ chỉ đơn vị đo thời gian, cũng chỉ sự sinh sôi, dạt dào sức sống, chỉ sự tập trung, sự hái gặt thành quả sau quá trình nỗ lực. “Em” là cách xưng hô đầy tính tứ. “Mùa em” có thể là mùa lúa chín được gặp em, cũng có thể là mùa của niềm thương nỗi nhớ hướng về những tấm lòng thơm thảo, những dáng hình thân thương, những kí ức đã trở thành dấu ấn in sâu trong tim người lính:

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương

                                   (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)


2. Tám câu thơ tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương lạnh nơi núi rừng miền Tây.

a. Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân

– Câu 1: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

+ Từ “bừng” diễn tả ánh sáng xuất hiện một cách bất ngờ, với cường độ mạnh xua tan cái tăm tối, lạnh lẽo, cái âm u hoang vắng của núi rừng miền Tây. Đặt giữa câu thơ, từ “bừng” còn diễn tả sự ngạc nhiên, niềm vui sướng, hào hứng của những người lính trẻ trước đêm liên hoan.

+ “Đuốc hoa” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Đó có thể là hình ảnh tả thực những ngọn đuốc bập bùng cháy trong đêm như những bông hoa lửa xòe nở giữa đêm đen nơi núi rừng Tây Bắc. Không những thế, nó còn gợi lên trong người đọc sự liên tưởng thú vị đến “đuốc hoa” (hoa chúc) – một hình ảnh gắn liền với đêm tân hôn hạnh phúc của những đôi uyên ương. (thành ngữ Hán Việt có câu: “Động phòng hoa chúc” còn dân ca Quan họ cũng có lời hát: “Còn duyên ngồi gốc cây thông – Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa – Có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà – Cho thầy mẹ biết để đuốc hoa định ngày”). Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn nhận ra nét tài hoa, tình tứ, lãng mạn và cả những mong ước thầm kín rất người trong tâm hồn những chàng trai trẻ Hà Thành.

+ Chính cái nhìn lãng mạn, hào hoa, đa tình, đa tài ấy đã biến không gian vốn khô cứng, chỉ gợi lên sự trật tự, kỉ luật – doanh trại, nay bỗng ngập tràn ánh sáng, sự ấm áp, niềm vui say náo nức của những chàng trai, cô gái trẻ trung, đầy sức sống. Trong phút chốc, doanh trại đã trở thành sân khấu cho đêm hội ánh sáng lung linh, huyền ảo giữa núi rừng.

– Câu 2: Kìa em xiêm áo tự bao giờ

+ Từ “kìa” (kết hợp với cụm từ “tự bao giờ”) diễn tả sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trong ánh mắt nhìn người lính trẻ trước sự xuất hiện của những cô gái miền sơn cước.

+ Hình ảnh những sơn nữ không được miêu tả kĩ lưỡng ở chân dung, ở nhan sắc nhưng qua ánh mắt đa tình, cái nhìn tinh tế, lãng mạn của người lính Tây Tiến, người đọc thấy hiện lên bóng hình những cô gái xinh đẹp, tài hoa, duyên dáng – đẹp một vẻ đẹp rất riêng của mảnh đất phương xa, xứ lạ. Vẻ đẹp ấy đã cuốn những chàng trai trẻ Hà Thành đi từ ngạc nhiên, thích thú đến say mê, đắm đuối trong một đêm hội của nhạc, của thơ, của mơ.

+ Ấn tượng đầu tiên về người sơn nữ miền Tây là những bộ trang phục. Từ “xiêm áo” (chứ không phải “váy áo, quần áo”) là từ cổ, mang sắc thái trang trọng, thể hiện cái nhìn ngạc nhiên của người lính khi bắt gặp những bộ trang phục cầu kì, lộng lẫy và hết sức mới lạ của những cô gái đồng bào dân tộc ít người.

– Câu 3: Khèn lên man điệu nàng e ấp

+ Không chỉ là đêm hội của ánh sáng, đó còn là đêm hội rộn rã âm thanh và nhịp nhàng điệu múa. “Khèn” một nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong tiếng khèn là cả hồn vía của núi rừng, cả tâm tư, tình cảm của con người nơi đây, tiếng khèn cất lên làm sống dậy cả một không gian văn hóa đậm màu sắc bản địa. “Man điệu” (điệu nhạc, điệu múa của các dân tộc thiểu số) – những vũ điệu mới mẻ, cuốn hút đầy mãnh lực trước con mắt ngạc nhiên, ngỡ ngàng và say mê của những chàng lính trẻ.

+ Sự say mê ấy được thể hiện qua sự chuyển đổi đại từ nhân xưng: “em” – “nàng” đầy tình tứ. Cái dáng điệu “e ấp” càng gợi lên sự duyên dáng, mềm mại, kín đáo, ý nhị mà tình tứ của người con gái.

– Câu 4: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

+ Tâm hồn lâng lâng, bay bổng theo tiếng khèn dìu dặt, ánh mắt đã đầy say mê dõi theo từng nhịp múa để rồi thăng hoa trong cảm xúc trào dâng của nhạc, của thơ. Câu thơ cuối có rất nhiều thanh bằng diễn tả cảm giác say mê, bay bổng. Tiếng nhạc đã nâng cánh để tâm hồn người lính bay đến kinh đô của cõi thơ, cõi mơ, cõi mộng. Mở đầu câu thơ là “nhạc”, khép lại là “thơ”, và giữa hai “đường biên xúc cảm” ấy là hình ảnh người lính đang say sưa ngây ngất đắm chìm trong bữa tiệc thịnh soạn của tâm hồn với những đặc sản của phương xa xứ lạ.

=> Đoạn thơ 4 câu tái hiện lại một buổi liên hoan văn nghệ ấm tính quân dân, mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc miền núi Tây Bắc đã thể hiện vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, nét đa tình, trẻ trung của người lính Tây Tiến. Với những khoảnh khắc ấy, người lính không thoát li thực tại, trốn chạy khỏi thực tế mà ngược lại, trở thành niềm động viên, thành sự mềm mại, bình yên cần thiết để người lính lấy lại sự cân bằng sau những gian khổ, hi sinh, để tiếp tục cầm súng chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc.

 

b. Nỗi nhớ về thiên nhiên, con người miền Tây trong một buổi chiều sương lạnh

– Câu 1. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Câu thơ có nhân vật (người đi), có không gian (Châu Mộc), có thời gian (chiều sương ấy) nhưng tất cả đều mờ ảo trong cảm giác xa xôi, u buồn, tiếc nhớ.

Hai câu thơ tiếp nối là hai câu hỏi nêu ra như niềm băn khoăn cần một lời xác quyết, cũng là một cách để gợi mở kỉ niệm.

– Câu 2. Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Hồn lau: Những vạt lau trắng xám là một hình ảnh rất đặc trưng cho núi rừng miền Tây (Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son – Tố Hữu). Nhưng ở đây, lau được nhân hóa, ẩn dụ – “hồn lau” (hay chính là hồn của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc trong buổi chiều hoang lạnh đã kết tụ lại nơi những bông lau phơ phất), cũng mang tâm hồn, cũng biết nhớ biết thương.

+ Nẻo bến bờ: không gian xa xôi, heo hút, vắng vẻ, cô tịch.

+ Tác giả hỏi “có thấy”: để nhìn thấy những hình dáng vạt lau, người ta chỉ cần sự quan sát của thị giác, nhưng để cảm được “hồn lau”, người ta phải sống, phải đi, phải thuộc mảnh đất này nhiều lắm, và cũng phải có cả sự lãng mạn, sự tinh tế trong tâm hồn mới có thể nhận ra điều đó.

– Câu 3 – 4. Có nhớ dáng người trên độc mộc – Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ Giữa thiên nhiên bàng bạc màu trắng của sương, của lau, màu của kí ức, của sự lãng quên, của cái hoang lạnh, ảo mờ một buổi chiều núi rừng miền Tây, nổi bật lên hình ảnh của người sơn nữ miền Tây. Không tả chân dung, nhan sắc cũng không tả trang phục, hiện lên sắc nét trong kí ức người lính là “dáng người” của cô gái.

+ “Độc mộc”: loại thuyền nhỏ làm từ thân một cây gỗ, phương tiện di chuyển chủ yếu trên sông, trên suối, vượt thác băng rừng của người dân miền núi. Để điều khiển con thuyền ấy, không chỉ đòi hỏi sự khỏe mạnh, bản lĩnh, kinh nghiệm mà còn cần cả sự khéo léo, uyển chuyển. Hình ảnh cô gái chèo thuyền độc mộc băng thác lũ mưa rừng gợi vẻ đẹp rắn giỏi, kiên cường, mạnh mẽ khỏe khoắn và cả sự tài khéo của con người miền Tây – những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên.

+ “Hoa” có thể hiểu theo nghĩa thực (hoa rừng), cũng có thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ (người con gái xinh đẹp, duyên dáng tựa bông hoa rừng). Từ láy “đong đưa” (chứ không phải “đung đưa”) cho thấy nét duyên dáng, uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại đầy nữ tính. Sự dữ dội, bạo liệt, hiểm nguy của thiên nhiên, của thác lũ mưa ngàn không đe dọa, nhấn chìm, vùi dập con người, mà ngược lại trở thành phông nền, làm tôn thêm cho bản lĩnh và vẻ đẹp của con người. Phải đặt trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội ấy vẻ đẹp của con người miền Tây mới thực sự nổi bật: vẻ đẹp khỏe khoắn, mềm mại của những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên, cuộc đời (khác hẳn với hình ảnh bất lực trước số phận của con người trung đại trong Truyện Kiều “Hoa trôi man mác biết là về đâu”).

+ Qua bức tranh thủy mặc về đất và người miền Tây, người đọc còn nhận ra sự tài hoa, tinh tế, nét lãng mạn, đa tình của những người lính Tây Tiến, những đứa con từ giã Hà Thành hoa lệ để ra nơi biên viễn chiến đấu bảo vệ quê hương, khám phá những vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam.

3. Bức tượng đài bi tráng, bất tử về người lính Tây Tiến

a. Chân dung người chiến binh Tây Tiến

– Bức chân dung ngoại hình của lính Tây Tiến. Hai câu thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

+ Nghệ thuật đảo ngữ nhằm nhấn mạnh, khắc sâu ấn tượng về cái tên Tây Tiến, cái tên, chỉ riêng nó thôi, đã gợi lại trong lòng nhà thơ không biết bao nhiêu kỉ niệm về một quãng đời không thể nào quên. Không những thế, vượt qua gió bụi thời gian, Tây Tiến đã đi vào lịch sử như một đoàn quân có một không hai, là chủ nhân và chứng nhân của một thời đại hào hùng mà gian khó của dân tộc.

+ “Không mọc tóc”: cách nói rất ấn tượng, thật đến trần trụi, đến khốc liệt. Không mọc tóc có thể là do lính Tây Tiến tự cắt tóc do yêu cầu của quân ngũ, nhưng đúng hơn, đó là cách nói về cả một đoàn quân tóc bị rụng dần đi do những khắc nghiệt của nơi núi rừng lam chướng miền Tây, của những thiếu thốn, gian khổ trong những ngày đầu kháng chiến. Nhưng hình ảnh cả đoàn quân “không mọc tóc” không gợi lên sự yếu đuối, tàn tạ mà ngược lại, qua cách đặt câu ở thể chủ động, người đọc nhận ra hình ảnh đoàn quân kiêu hùng, ngang tàng, bất chấp mọi hiểm nguy, gian khó. Những cái đầu “bướng bỉnh” ấy vẫn kiêu hãnh ngẩng cao, vẫn nhìn thẳng về phía trước.

+ “Quân xanh màu lá” cũng là một sự miêu tả hiện thực. Màu xanh ấy có thể là xanh áo, xanh quần, xanh cây xanh lá ngụy trang, xanh rừng xanh núi miền Tây. Nhưng đó cũng có thể là hình ảnh xót xa về những người lính da xanh nhợt vì đói ăn, vì khát uống, vì bệnh tật (nhất là sốt rét rừng), vì thiếu thốn trăm bề.

+ “Dữ oai hùm”: cách nói ẩn dụ độc đáo. Bên trong cái ngoại hình tưởng như tiều tụy, nhợt nhạt kia là cả một khí phách, một bản lĩnh kiên cường, một sự oai nghiêm, dữ dằn đầy sức mạnh của vị chúa sơn lâm.

– Vẻ đẹp tâm hồn lính Tây Tiến

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Động từ “trừng” diễn tả một cái nhìn căng, thẳng, đầy nung nấu, như chứa đựng biết bao xúc cảm, hoài bão, cái nhìn hướng ra nơi “biên giới”, hướng về kẻ thù.

+ “Mộng biên giới”: giấc mộng giết giặc lập công của người chiến binh. Ta bắt gặp trong giấc mộng chiến binh ấy cái “nợ công danh”, cái chí tang bồng hồ thỉ của những trang hào kiệt, của những đấng trượng phu thuở nào.

+ Mộng gửi về nơi biên cương nhưng mơ thì lại hướng về Hà Nội – thành phố quê hương thân yêu. Hà Nội gắn liền với hình ảnh của những kiều nữ đất Hà thành, người “em gái nhỏ hậu phương” vẫn thường đi về trong nỗi nhớ niềm thương, trong giấc mơ của những người lính trẻ. Những thiếu nữ lên hương (thơm), lên sắc (dáng kiều) trong thơ Quang Dũng đã thể hiện tâm hồn lãng mạn, đa tình cũng như những khát khao thầm kín về một hạnh phúc lứa đôi, về một cuộc sống sum vầy của những người lính trẻ.

b. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

– Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thể hiện không khí trang nghiêm, lòng thành kính của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống. Chính hệ thống từ ngữ ấy kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi (biên cương, chiến trường, áo bào, khúc độc hành) cũng tạo sắc thái cổ kính, gợi liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt của những anh hùng, dũng tướng sẵn sàng chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây” đầy bi tráng của văn học trung đại.

– Câu thơ đầu: rất nhiều từ Hán Việt nhưng sức nặng của cả câu lại dồn vào một từ thuần Việt: “mồ”. Mồ cũng là mộ, nhưng tại sao tác giả lại dùng cách nói thuần Việt? Là bởi những nấm mộ của các anh không hoàn toàn là mộ theo đúng nghĩa, chỉ là những nấm đất được đào vội, chôn mau ngay trên đường hành quân để đoàn quân tiếp tục lên đường. Đặt trong không gian nơi biên cương, miền viễn xứ, những nấm mồ ấy gợi lên bao nỗi xót xa.

– Câu 2: nghệ thuật đảo ngữ (chiến trường đi) nhấn mạnh đích đến. Chiến trường là đích duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệm của cả một (hơn một) thế hệ. Với họ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến chống quân thù”. Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát, sự quyết tâm, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng hi sinh cả “đời xanh” tuổi trẻ, cả tính mạng của mình cho Tổ quốc. Nhà thơ nói “chẳng tiếc”, nhưng tuổi trẻ đẹp thế, cuộc đời tươi thế, có thật là “chẳng tiếc” không? Nhưng ai cũng tiếc thì còn chi đất nước?

– Câu 3: “Áo bào thay chiếu” một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh nhưng cái thiếu thốn về vật chất lại được khỏa lấp bằng sự hiên ngang, can trường của người lính. Trong mắt họ, những tấm chiếu manh kia chính là những tấm chiến bào của người dũng tướng cũng họ vào cõi vĩnh hằng. Cách nói “về đất” không chỉ là cách nói giảm, nói tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng, xâu xa. Chết không phải là ra đi vào cõi hư vô mà là trở về, trở về với Đất mẹ thân yêu. Đất mẹ cũng mở lòng đón những đứa con ưu tú của mình. Các anh đã ngã xuống, đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất tên làng đều có hình bóng các anh. (Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất – Có một phần xương thịt của em tôi)

– Câu 4: Sông Mã mở đầu cho cuộc hành trình trở về Tây Tiến trong kí ức của nhà thơ, cũng là chứng nhân, là thân nhân đưa tiễn những đứa con của đoàn quân ấy về lòng đất mẹ. Dòng sông không mênh mang, chơi vơi trong tiếng gọi tha thiết nhớ thương mà giờ đây nó gầm lên trong cơn giận dữ kìm nén, trong đau thương uất nghẹn. Không hát, không thét, không khóc mà “gầm lên khúc độc hành”. Đau thương đã biến thành sức mạnh, thành lòng căm thù, thành sự quyết tâm, thành ý chí sắt đá. Dòng sông khi phải tiễn biệt những người lính Tây Tiến, bỗng trở nên cô đơn trong cuộc hành trình về biển lớn. “Độc hành”, đó là cuộc hành trình của dòng sông, của người đã khuất hay của người đang sống. Ta không thể trả lời xác quyết, song điều chắc chắn là sự ra đi của các anh là những mất mát, thiếu hụt không gì có thể bù đắp được, để lại sự tiếc thương, xót xa, cả sự hụt hẫng cho những người đồng đội.

4. Lời ước hẹn thủy chung, son sắt

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

 

– Khổ cuối như khúc vĩ thanh, khép lại bài thơ, để lại trong lòng người đọc biết bao dư ba, xúc động. Đó là lời ước hẹn thủy chung, son sắt với mảnh đất, với con người miền Tây, với những người đồng đội từng chia sẻ thiếu thốn, gian nguy, từng vào sinh ra tử.

– Hàng loạt các từ ngữ “không hẹn ước”, “thăm thẳm”, “chia phôi”, “chẳng về xuôi” cho thấy một tâm thế dứt khoát, vững vàng của người lính. Từ giã gia đình đi ra nơi biên cương, miền chiến địa, họ coi đó là “cuộc chia phôi” không hẹn ước.

– “Mùa xuân ấy” có thể là từ ngữ gợi nhắc thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947) cũng gợi liên tưởng đến những con người mang tuổi xuân, chẳng tiếc đời xanh của mình để góp phần làm nên mùa xuân lớn cho Tổ quốc. Họ đã để lại nơi những cánh rừng, dòng sông, ngọn núi, bản làng nơi biên cương Tổ quốc một phần tuổi trẻ, một quãng đời oanh liệt, hào hùng với những kỉ niệm không bao giờ có thể nguôi quên. Một phần tâm hồn họ, mãi mãi vấn vương cùng mảnh đất chất chứa đầy kỉ niệm ấy. Và chúng ta, mỗi khi nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sông tên núi của mảnh đất miền biên viễn ấy, ta vẫn tự nhắc mình, có những con người đã sống, chiến đấu, hi sinh để bảo tồn hình hài Tổ quốc.

 

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Advertisements

Cách làm dạng bài nghị luận xã hội

Aotrang3

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

TRONG ĐỀ THI ĐẠI HỌC

A. NHẬN DIỆN VÀ PHÂN DẠNG

1. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

VD2: Câu II (3,0 điểm) ĐH D-2011

Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích. 

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD3: Câu II (3,0 điểm) ĐH C-2011

Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD4: Câu II (3,0 điểm)  ĐH D-2009

Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau:

Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

                               (Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2008, tr. 90) 

 

2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

VD1: Câu 2 (3,0 điểm)  ĐH khối D-2012

Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa.

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD2: Câu II (3,0 điểm)  ĐH C-2010

Như một thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội.

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay. 

VD3: Câu II (3,0 điểm)  ĐH D-2010

Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng.

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.

VD4: Câu II (3,0 điểm)  ĐH C-2009

Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A. Lin-côn (1809 – 1865) viết: “xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi.” (Theo Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr. 135).

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống.

 

3. Nghị luận về một hiện tượng/vấn đề được đặt ra từ tác phẩm văn học

– Sống nhanh, sống vội, sống gấp trong Vội vàng

– Bạo hành gia đình trong Chiếc thuyền ngoài xa

– Sự suy đồi đạo đức gia đình qua Hạnh phúc của một tang gia

– Tình trạng tha hóa của con người khi bị đẩy vào bước đường cùng qua Chí Phèo

– Quyền được học tập, vui chơi của trẻ em qua Hai đứa trẻ

– Những hủ tục lạc hậu và tác hại của nó với đời sống xã hội và mỗi cá nhân qua Vợ chồng A Phủ

– Ước vọng hoàn thiện nhân cách, sống là chính mình qua Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Lòng nhân ái, sẻ chia với những số phận bất hạnh qua Vợ nhặt

– Ý thức trách nhiệm với Tổ quốc, tinh thần yêu nước của tuổi trẻ qua Những đứa con trong gia đình

– Mối quan hệ giữa rừng và cuộc sống con người qua Rừng xà nu

– Thư pháp – một thú chơi tao nhã, một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa đang được hồi sinh trong cuộc sống hiện đại (qua Chữ người tử tù)

 Chú ý: Dạng đề này chưa bao giờ xuất hiện trong các đề thi Đại học. Nhưng dưới yêu cầu của xã hội trong việc đổi mới cách ra đề cũng như áp lực của việc tự đổi mới, tránh sự mòn sáo, buồn tẻ, công thức, dạng đề này rất có thể được trình làng trong những mùa thi tới. Nhắc mới nhớ, đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 thành phố Hà Nội năm 2013-2014 đã hỏi một câu dạng này rồi (cảm nghĩ về những người lính đang bảo vệ biển đảo quê hương khi đọc Hoàng Lê nhất thống chí. Đấy có thể là một dấu hiệu báo trước những sự thay đổi sắp diễn ra.

4. Các dạng đề khác

Còn một dạng đề nữa, Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra từ một mẩu chuyện giàu ý nghĩa (truyện có thể là một tác phẩm văn học/hư cấu hoặc là một câu chuyện có thật nhưng mang nhiều ý nghĩa “ngụ ngôn”). Đây cũng là dạng đề chưa bao giờ xuất hiện trong Đề thi ĐH-CĐ, nhưng trong xu hướng ngày càng dân chủ hóa, cho phép độ mở lớn trong việc thể hiện quan điểm cá nhân của học sinh về các vấn đề xã hội, dạng đề này rất có thể sẽ xuất hiện trong thời gian tới. Nhắc mới nhớ, dạng đề này đã xuất hiện trong Đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 năm 2012-2013 của thành phố Hồ Chí Minh (câu chuyện gần giống như câu chuyện Chiếc bánh kem bên dưới đây).

Ví dụ: Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ), trình bày suy nghĩ của mình về câu chuyện sau:

 CHIẾC BÁNH KEM

 “- Ăn thêm cái nữa đi con!

– Ngán quá, con không ăn đâu!

– Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!

– Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!

Thằng bé lắc đầu quầy quậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xa rơi xuống đường, sát mép cống. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đi.

Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ, xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:

– Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn.

Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.

– Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh – Con bé nói rồi thút thít

– Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi.”

(Hạt giống tâm hồn)

 

B – CÁCH LÀM BÀI

1. Nguyên tắc chung

– Phân phối thời gian: nên dành khoảng 60 phút để hoàn thành bài viết

– Dung lượng (độ dài): 600 từ (khoảng 1000 chữ) tương đương khoảng 2 – 2,5 trang giấy thi

– Đừng mất quá nhiều thời gian để nghĩ mở bài văn hoa và kết bài ấn tượng. Phần ấy không có điểm đâu

– Luận điểm (ý) là quan trọng nhất nhưng hãy cố gắng diễn đạt ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, trôi chảy. Ý sắp xếp phải logic.

– Dẫn chứng là không thể thiếu. Mỗi bài chỉ cần có khoảng 3 dẫn chứng nhưng dẫn chứng đưa ra cần phải tiêu biểu, ấn tượng và phải được PHÂN TÍCH kĩ (đừng dừng lại ở mức độ NÊU dẫn chứng)

– Tuân thủ cấu trúc chung của một bài văn nghị luận để đảm bảo điểm số cho bài viết:

+ Giải thích vấn đề

+ Bình luận, chứng minh vấn đề

+ Bài học nhận thức và hành động

2. Cách làm các dạng bài cụ thể

a. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

– Giải thích vấn đề: Giải thích từ ngữ, khái niệm, hình ảnh, phép tu từ (nếu có, nếu cần) … rồi giải thích nội dung ý kiến/câu nói.

– Bình luận, chứng minh

* Bàn luận về mức độ đúng đắn, chính xác, sâu sắc của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:

Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:

+ Phân tích, chia tách tư tưởng đạo lí thành các khía cạnh để xem xét, đánh giá.

+ Dùng lí lẽ, lập luận và dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề tư tưởng, đạo lí được bàn luận.

+ Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc.

* Bàn luận về mức độ đầy đủ, toàn diện của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:

Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:

+ Người viết nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Tư tưởng đạo lí ấy đã đầy đủ, toàn diện chưa? Có thể bổ sung thêm điều gì?

+ Người viết cần lật đi lật lại vấn đề, xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác.

+ Người viết cần có bản lĩnh, lập trường tư tưởng vững vàng, cần có suy nghĩ riêng, dám đưa ra chính kiến riêng, miễn là có lí, có tinh thần xây dựng và phù hợp đạo lí.

– Bài học

+ Bài học nhận thức

+ Bài học hành động

 

b. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

– Giải thích vấn đề: Giải thích từ ngữ, khái niệm, hình ảnh, phép tu từ (nếu có, nếu cần) … rồi giải thích nội dung ý kiến/câu nói.

– Bình luận, chứng minh

+ Biểu hiện, Thực trạng của vấn đề

+ Hậu quả/kết quả của vấn đề

+ Nguyên nhân và giải pháp

– Bài học

+ Bài học nhận thức

+ Bài học hành động

c. Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra từ một tác phẩm văn học (đã học hoặc một mẩu chuyện)

Về cơ bản, làm giống như mô hình bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí (hoặc một hiện tượng xã hội). Nhưng chú ý, trong phần Giải thích vấn đề, cần xuất phát từ nội dung tác phẩm văn học để làm nổi bật vấn đề cần nghị luận rồi từ đó liên hệ với thực tế cuộc sống.

 

d. Một vài nhận xét quan trọng cần lưu ý

– Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối. Thực tế, trong đề thi những năm qua có những đề thi rất khó để xếp riêng vào loại Nghị luận về hiện tượng đời sống hay về một tư tưởng, đạo lí. Điều ấy thực ra cũng không gây khó khăn nhiều khi ta thực sự nắm chắc bản chất của vấn đề cần nghị luận và hiểu cách làm một bài NLXH.

– Trong đề thi một vài năm trở lại đây, vấn đề cần nghị luận được nêu lên qua câu nói có nhiều vế (nghĩa là vấn đề cần nghị luận cần được xem xét dưới nhiều phương diện, khía cạnh, góc nhìn khác nhau). Với những câu hỏi ấy, cần trình bày linh hoạt các phần của bài nghị luận:

+ Giải thích: như trên (giải thích cả câu nói/ý kiến để xác định rõ vấn đề cần nghị luận)

+ Bình luận, chứng mình: Làm riêng cho từng vế. Xong vế này mới chuyển sang vế khác.

+ Bài học: chung

Tạm thế đã. Nhỉ?!

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Hướng dẫn làm dạng câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH

Suong khoi mo nhan anh

HƯỚNG DẪN LÀM DẠNG CÂU HỎI 2 ĐIỂM 

Dạng đề: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm

Phi lộ: Như đã trình bày trong bài giới thiệu khái quát về cách làm câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH-CĐ, thường có 4 dạng hay xuất hiện. Ở đây chỉ tập trung hướng dẫn làm dạng phổ biến nhất (trong khoảng 3 năm trở lại đây), gây nhiều khó khăn nhất cho các em học sinh: Dạng 1: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.

Trong đáp án của câu hỏi này thường đòi hỏi người viết trình bày được 2 nội dung cơ bản:

– Tái hiện chi tiết

– Ý nghĩa của chi tiết:

+ Ý nghĩa về nội dung

+ Ý nghĩa về nghệ thuật

Trong điều kiện thời gian có hạn (thực ra là sự lười nhác của thầy), thầy chỉ trình bày ngắn gọn phần Ý nghĩa của chi tiết, phần Tái hiện các em có thể xem lại trong Sách giáo khoa. Thầy sẽ tiếp tục cập nhật phần phân tích ý nghĩa của các chi tiết ở các tác phẩm khác.

VỢ CHỒNG A PHỦ

1. Ý nghĩa cảnh xử kiện trong vợ chồng a phủ
– Thể hiện sự bất công, tàn bạo của bọn cường hào dưới xã hội phong kiến miền núi. Vụ xử kiện như một cơ hội để chúng kiếm chác, bóp nặn những người dân nghèo vô tội, thấp cổ bé họng.
– Tình cảnh đau khổ, tủi nhục của những người dân lương thiện dưới ách áp bức của tầng lớp thống trị.
=> Giá trị hiện thực của tác phẩm

2. Ý nghĩa chi tết cảnh A Sử trói Mỵ
– Thói gia trưởng, sự tàn nhẫn, độc ác của bọn thống trị. Chúng trói thể xác Mị bằng một thúng sợi đay và trói cả tâm hồn, sức sống, khát vọng tự do, yêu đương qua hình ảnh mái tóc dài bị quấn chặt vào cột. Sau khi trói Mị, A Sử tắt đèn, đóng cửa, tiếp tục muốn giam cầm cô trong tăm tối của kiếp ngựa trâu.
– Tình trạng đau khổ, bế tắc, tủi cực của người phụ nữ khao khát sống, khao khát yêu thương nhưng mỗi lúc định vùng lên lại bị trà đạp, bị vùi dập tàn nhẫn.
=> Giá trị hiện thực (tố cáo sự tàn ác) và giá trị nhân đạo (xót thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của con người)

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

3. Ý nghĩa chi tiết Huấn Cao dỗ gông
– Thể hiện bản lĩnh cứng cỏi của một đại trượng phu, tuy đã sa cơ nhưng không chịu cúi đầu trước bạo quyền.
– Thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi sáng tạo một chi tiết thật độc đáo để khắc họa tính cách nhân vật.

4. Ý nghĩa chi tiết viên quản ngục so sánh Huấn Cao với “1 ngôi sao hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời ko định’
– Khẳng định và ngợi ca nhân phẩm, tài năng, khí phách của Huấn Cao, tấm lòng ấy, sự nghiệp ấy sáng tựa sao trời.
– Thể hiện sự tiếc thương đối với con người tài hoa khí phách sắp phải từ giã cõi đời.
– Qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc lựa chọn chi tiết đồng thời kín đáo thể hiện niềm kính ngưỡng của nhà văn với những con người mà nhân cách, tài năng đều ở vào hàng xuất chúng, kín đáo thể hiện lòng yêu nước.

CHÍ PHÈO

5. Ý nghĩa tiếng chửi chí phèo
– Thể hiện tâm trạng bi phẫn đến cùng cực của Chí Phèo khi bị xã hội tuyệt giao, không coi là một con người.
– Tiếng chửi là lời kết án toàn xã hội, cái xã hội vô nhân đã sinh ra hiện tượng Chí Phèo
– Thể hiện khát vọng được giao tiếp, được trở lại làm người của Chí Phèo
– Thể hiện tài năng nghệ thuật của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ trần thuật nửa trực tiếp, trong cách miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật.

6. Ý nghĩa hành động của viên ngục quan: “ngục quan cảm động,vái người tù 1 vái,chắp tay nói 1 câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
– Thể hiện sự xúc động, niềm kính ngưỡng của quản ngục với Huấn Cao.
– Cái cúi đầu bái lĩnh của quản ngục phải hiểu là cái cúi đầu trước vẻ đẹp của tài năng, khí phách và thiên lương. Đó là sự toàn thắng của cái thiện trước cái ác, cái đẹp trước cái xấu.
– Hành động ấy tôn vinh cả hai người: người vái lạy và người được vái lạy.

7. Ý nghĩa chi tiết rạch mặt ăn vạ của chí phèo ở nhà bá kiến
– Đánh dấu sự thay đổi trong tính cách Chí: từ một người nông dân hiền lành lương thiện thành kẻ lưu manh.
– Khẳng định bi kịch của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng, bị lưu manh hóa, phải bán cả nhân hình, nhân tính để tồn tại
– Thể hiện bản chất thâm hiểm, gian hùng của Bá Kiến

8. Ý nghĩa chi tiết: “Hình như có 1 thời hắn đã ước ao có 1 gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải…”
– Thể hiện phần tốt đẹp, lương thiện không bao giờ mất đi trong con người Chí. Việc Chí nhớ lại cái ước mơ thuở nào đánh dấu quá trình thức tỉnh và khát khao trở thành người lương thiện của anh.
– Thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm khi nhà văn phát hiện, nâng niu, trân trọng những phần tốt đẹp bị khuất lấp, bị lãng quên, bị vùi sâu bên trong cái vẻ ngoài độc dữ, thú vật của Chí.
– Thể hiện tài năng trong nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn.

9. Ý nghĩa chi tiết cái lò gạch cũ
– Xuất hiện mở đầu và kết thúc tác phẩm tạo nên kiểu kết cấu vòng tròn (kết cấu đầu cuối tương ứng), khẳng định một quy luật xã hội khốc liệt: chừng nào chưa thay đổi tận gốc xã hội thì hiện tượng Chí Phèo sẽ vẫn còn tồn tại.
– Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc, toàn diện của nhà văn.

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Kĩ năng làm câu 2 điểm trong cấu trúc Đề thi ĐH-CĐ

aodaitrang08

 

Kĩ năng làm câu 2 điểm trong Đề thi ĐH-CĐ

 

1. Phân loại và nhận dạng (Nội dung)

Dạng 1: Hỏi về một chi tiết cụ thể trong tác phẩm

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2011

Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?

VD2: Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2010

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, việc nhân vật Tràng “nhặt” được vợ đã khiến cho những ai ngạc nhiên? Sự ngạc nhiên của các nhân vật đó có ý nghĩa như thế nào về nội dung và nghệ thuật?

VD3: Câu 1 (2,0 điểm) ĐH C-2012

Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), ở phần nói về thượng nguồn sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví vẻ  đẹp của dòng sông này với hình  ảnh hai người phụ nữ,  đó là những hình  ảnh nào?  Ý nghĩa của những hình ảnh ấy?

VD4: Câu 1 (2,0 điểm) ĐH D-2012

Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?

VD5: Câu I (2,0 điểm) CĐ – 2011

Trong phần đầu vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nguyên nhân nào dẫn đến cái chết bất ngờ của nhân vật Trương Ba? Kết thúc vở kịch (cảnh VII), Hồn Trương Ba đã tự quyết định về sự sống, chết của chính mình như thế nào? Nêu ngắn gọn ý nghĩa nội dung lời thoại của nhân vật Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

VD6: Câu I (2,0 điểm) CĐ-2012

Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ? Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa như thế nào?

VD7: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2012

Trong phần cuối tác phẩm Số phận con người, nhà văn M. Sô-lô-khốp viết:

Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…

(Ngữ văn 12, Tập hai, tr.123, NXB Giáo dục – 2008)

Hai con người được nói đến ở trên là những nhân vật nào? Vì sao tác giả gọi họ là hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn có ý nghĩa gì?

VD8: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2011

 Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

 

Dạng 2. Hỏi về một/một số đặc điểm nổi bật (về ND hoặc NT hoặc cả hai) của tác phẩm

VD1:  Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2011

Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009), Tố Hữu đã  sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện  đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?

VD2: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2009

Anh/chị hãy nêu những nét chính về tình cảm nhân  đạo và bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.

VD3: Câu I (2,0 điểm) CĐ-2010

  Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

 

Dạng 3. Hỏi về Tác giả

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2010

Anh/chị hãy trình bày ngắn gọn về sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh.

VD2: Câu I (2 điểm) ĐH D-2008

Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám. 

VD3: Câu I (2 điểm) ĐH C-2008

Anh/ chị hãy giới thiệu ngắn gọn về hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc của Tố Hữu.

VD4: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2010

Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn M. Sô-lô-khốp.

 

Dạng 4. Hỏi về một vấn đề văn học sử

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2009

Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.  Anh/chị hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.

 VD2: Làm gì có. Vì dạng này tuy không “quý” nhưng lại thực sự “hiếm”.

2. Kĩ năng làm bài (Cách trình bày)

Yêu cầu chung:

Thời gian thực hiện: không nên vượt quá 25 phút

– Nội dung: ĐÚNG và ĐỦ

– Hình thức:

+ Ngắn gọn, súc tích, rõ ràng. Ngôn từ, diễn đạt không cần văn hoa nhưng trình bày phải logic, trôi chảy.

+ NÊN trình bày thành những đoạn văn ngắn, có câu mở đầu giới thiệu chung vấn đề và có câu kết đánh giá ý nghĩa, giá trị của vấn đề.

– Cách làm:

+ Gạch nhanh các ý chính ra nháp (1 – 3 phút). Sắp xếp ý theo trình tự hợp lí. Các ý có thể chưa đầy ĐỦ nhưng phải là những ý ĐÚNG. Trong quá trình làm bài, có thể sẽ nhớ ra những ý còn thiếu.

+ Trình bày bài viết, đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức.

+ Khi đã làm xong câu 1, chuyển sang câu khác mà nhớ ra những ý còn thiếu của câu 1: ghi lại những ý thiếu ra nháp, sau khi hoàn thành câu đang làm dở, bổ sung nội dung cho câu 1. Ghi vào bài thi như sau: Câu 1 (Bổ sung)

KĨ NĂNG LÀM TỪNG DẠNG BÀI

Dạng 1: Hỏi về một chi tiết/hình ảnh trong tác phẩm

Tùy theo từng đề cụ thể, song về cơ bản, bài làm cần đảm bảo các nội dung sau:

– Tái hiện lại các chi tiết/hình ảnh/sự kiện trong tác phẩm: cần viết chính xác, đầy đủ các chi tiết liên quan. Tốt nhất là trích dẫn nguyên văn một (vài) đoạn độc đáo, ấn tượng, thể hiện rõ nét đặc sắc của chi tiết/hình ảnh ấy (các trích dẫn trực tiếp cần cho vào dấu ngoặc kép ” “). Nếu không thể trích dẫn trực tiếp có thể gián tiếp kể/tả lại chi tiết/hình ảnh đó.

– Nêu ý nghĩa của chi tiết/hình ảnh:

+ Ý nghĩa về nội dung (làm nổi bật tính cách nhân vật, thể hiện sống động nội dung, chủ đề, tư tưởng tác phẩm …)

+ Ý nghĩa về nghệ thuật (góp phần vào nghệ thuật xây dựng nhân vật, thúc đẩy cốt truyện, thể hiện phong cách/tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn …)

Dạng 3, 4 : Tự “chém” vì yêu cầu không quá phức tạp, chủ yếu là học thuộc và ghi nhớ nội dung trong Sách giáo khoa.

Riêng Dạng 2 cần có sự tổng hợp kiến thức và thực sự nắm chắc nội dung và đặc sắc nghệ thuật của các tác phẩm. Đôi khi đề ra có đề cập đến một vài khái niệm lí luận văn học (nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, tình huống truyện, cốt truyện, kết cấu, tính sử thi, cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa nhân đạo/hiện thực, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ….), các em cần trang bị cho mình kiến thức về các khái niệm này làm công cụ vì sẽ còn sử dụng rất nhiều trong quá trình học/thi. Khi nào rảnh rang thầy sẽ viết kĩ hơn về dạng này.

Thế đã nhỉ.

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

Song Da

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Câu hỏi ôn tập trọng tâm thi Tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng

Câu 1. Trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. 

Câu 2. Nêu hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo và những đặc sắc nghệ thuật của tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 3. Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 4. Phân tích hình tượng ông đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 5. So sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù và nhân vật ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 6. Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)
                           (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao,
                                                               Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 157)
   (…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)
                                                 (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường,
                                                         Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)

Bài văn tham khảo

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

Bài 03. Bình giảng đoạn văn sau đây trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân:

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịch không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Phọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng có sương, chăm chăm nhìn tôi lừ đừ trôi trên một mũi đỏ. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Bài 04. Phân tích, cảm nhận về tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 05. Phân tích hình tượng ông lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.