Tây Tiến (Quang Dũng)

391269_431392030235433_1397363105_n

 

Tây Tiến

 

“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy, con người ấy

Vẫn sống muôn đời với núi sông”

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

– Vị trí: Gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại.

– Sự nghiệp: Người nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc

– Phong cách: hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.

2. Tác phẩm

– Giới thiệu về đoàn quân Tây Tiến:

+ Thời gian thành lập: mùa xuân 1947

+ Nhiệm vụ và địa bàn hoạt động:

* Địa bàn hoạt động rộng: trải dài từ Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình tới Tây Thanh Hóa và sang cả vùng biên giới Việt Lào. Không chỉ rộng về phạm vi hoạt động, địa bàn chiến đấu của những người lính Tây Tiến là vùng núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, thơ mộng, mới lạ (trong mắt những chàng trai Hà Thành) vừa hoang vu, hiểm trở, đầy thử thách.

* Nhiệm vụ: Đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

+ Thành phần xuất thân: Phần đông là thanh niên, học sinh thủ đô.

+ Phẩm chất của lính Tây Tiến: Đó là những thanh niên trẻ trung, ngàng tàng, đầy nhiệt huyết và giàu lòng yêu nước, sẵn sàng đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, cầm súng chiến đấu, bảo vệ biên cương. Đồng thời, đó cũng là những chàng trai Hà Thành với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ và rất đỗi hào hoa.

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được sáng tác năm 1948, tại một ngôi làng nhỏ ven sông Đáy (Phù Lưu Chanh) thuộc tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Lúc này Quang Dũng đã xa đơn vị, xa đồng đội. Nhớ về Tây Tiến với những kỉ niệm xúc động, hào hùng, nhà thơ đã viết nên một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại – bài thơ Tây Tiến.

– Nhan đề tác phẩm: ban đầu nhà thơ đặt tên cho tác phẩm của mình là “Nhớ Tây Tiến” sau này in lại nhà thơ sửa lại thành “Tây Tiến”. Bớt đi một chữ, nhan đề được ngắn gọn, cô đọng hơn đồng thời mở ra những trường liên tưởng, cảm xúc mới mẻ cho người đọc: không chỉ nhớ mà còn thương, còn yêu, còn thủy chung gắn bó, còn xúc động tự hào, còn thề nguyền hẹn ước … Bao nhiêu là cảm xúc kết đọng trong một từ ngữ, một cái tên gắn liền với hình ảnh đoàn binh đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc.

– Bố cục: 4 đoạn

+ 14 câu đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

+ 8 câu tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương nơi núi rừng miền Tây

+ 8 câu tiếp: Bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến

+ 4 câu cuối: Lời ước hẹn thủy chung


II. PHÂN TÍCH

1. 14 câu thơ đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

– Hai câu thơ đầu: Dẫn dắt người đọc bước vào không gian của cảm xúc, của kỉ niệm và của nỗi nhớ “chơi vơi” không nói hết thành lời:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

+ Câu thơ đầu mang hình thức câu cảm thán, là một tiếng gọi trong tha thiết nhớ thương. Câu thơ nhiều thanh bằng, kết hợp với vần “ơi” (âm mở) tạo âm vang trầm buồn, da diết, mênh mang của cõi nhớ. Những cái tên(sông Mã, Tây Tiến) vang lên gần gũi, thân thương thông qua biện pháp nhân hóa.

+ Câu thơ thứ hai: phép điệp từ “nhớ” nhấn mạnh cảm xúc chủ đạo chi phối toàn bài thơ. Nỗi nhớ có đối tượng, có sắc thái. Từ láy “chơi vơi” diễn tả chính xác cảm giác của nhà thơ, sắc thái của nỗi nhớ: da diết, mênh mang, hụt hẫng, thẳm sâu. Nỗi nhớ vốn vô hình, vô ảnh nhưng lại được khắc họa bằng một từ láy tượng hình ấn tượng.

– 12 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây và người lính Tây Tiến

a. Kí ức về thiên nhiên miền Tây

* Sương miền Tây

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

+ Các địa danh Mường Lát, Sài Khao và còn nhiều cái tên đất, tên làng, tên sông, tên núi đã gợi lên sự hoang vu, xa ngái của vùng đất miền biên viễn vừa chứa ẩn nhiều thử thách hiểm nguy, vừa gọi mời khám phá.

+ Từ “lấp” cho thấy sương rất dày, đặc gợi cảm giác về sự lạnh lẽo. Như một hệ quả tất yếu của thiên nhiên, đoàn quân hiện ra trong màn sương lặng lẽ, mệt mỏi, dãi dầu.

+ Từ “hoa” có nhiều cách hiểu. Có thể là hoa hương nơi núi rừng Tây Bắc. Cũng có thể là cách nói ẩn dụ của ngọn đuốc trên đường hành quân. Nhưng dù theo nghĩa nào, người đọc đều cảm nhận được tâm hồn tài hoa, tư chất nghệ sĩ lãng mạn của những người lính Tây Tiến.

* Dốc núi miền Tây

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

+ Nhịp ngắt 4/3 kết hợp với phép điệp từ “dốc” làm hiện ra trước mắt người đọc trùng điệp những dốc núi. Câu thơ nhiều thanh trắc (5/7) gợi sự gập ghềnh, nhọc nhằn của đường đi. Hai từ láy gợi cảm “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” là cái ngước nhìn của người leo dốc, thu về cả cận cảnh và viễn cảnh để nhận ra đoạn đường phía trước hun hun đến không cùng (lấy sâu để tả cao).

+ Từ láy “heo hút” cùng phép đảo ngữ thể hiện cái vắng vẻ, cao chót vót và xa đến không cùng. Động từ “ngửi” được nhân hóa: ngọn súng như đang tò mò, thám hiểm bầu trời, trêu đùa với tạo hóa. Qua đó làm hiện lên hình ảnh của người lính trên nền thiên nhiên hùng vĩ: trẻ trung, ngang tàng, tếu táo, mạnh mẽ, kiên cường.

+ Điệp từ “ngàn” là sự định lượng mang tính ước lệ, thể hiện sự hùng vĩ của thiên nhiên dốc núi miền Tây đồng thời hứa hẹn những khó khăn, thử thách cho người lính. Nhịp thơ 4/3 bẻ gãy câu thơ làm đôi kết hợp với động từ thể hiện sự chuyển động ngược hướng “lên – xuống” đã diễn tả sự cheo leo, chênh vênh, sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của những dốc núi miền Tây.

* Mưa miền Tây

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

+ Câu thơ nhiều thanh bằng với những âm tiết mở diễn tả không gian mênh mông trải rộng trong màn mưa và cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản của người chiến sĩ sau những chặng đường hành quân vất vả. Phép ẩn dụ, liên tưởng độc đáo “mưa xa khơi” diễn tả không gian bồng bềnh trong màn mưa rừng khiến cả thung lũng trở thành đại dương mênh mông còn những ngôi nhà như những con thuyền nhỏ bồng bềnh trôi trong đại dương ấy.

* Núi rừng miền Tây

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

+ Phép nhân hóa (“gầm thét”, “trêu người”) cho thấy sự dữ dội, hoang sơ, bí hiểm đầy đe dọa.

+ Điệp từ “chiều chiều”, “đêm đêm” cho thấy sự vĩnh hằng, trường cửu.

+ Sự đối lập về âm thanh và hình ảnh: cái gầm vang của thác lũ với cái im lặng đến nghẹt thở của khoảnh khắc chúa sơn lâm rình mồi, cái oai linh nơi vòm cao thăm thẳm hay bước đi nặng nề của mãnh thú nơi vòm thấp tối đều là những mối đe dọa đến sự sống nhỏ nhoi, yếu đuối của con người.

=> Vừa thấy được sự hiểm nguy, vừa cảm phục lòng dũng cảm của những người lính Tây Tiến.

 

b. Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân.

– Kí ức về người lính trên đường hành quân gian khổ:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

+ Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả, nhọc nhằn, gian khổ mà người lính phải chịu đựng. “Không bước nữa”, “bỏ quên đời” có thể được hiểu theo nhiều cách: một khoảnh khắc nghỉ ngơi, nỗi mệt mỏi đến kiệt sức không thể tiếp tục hay thậm chí là cái chết. Hiểu theo nghĩa nào thì người đọc cũng vẫn nhận ra nỗi vất vả gian truân của người lính trên những chặng đường hành quân chiến đấu.

+ Các nói giảm, nói tranh (không bước nữa, bỏ quên đời), cách nói phủ định cho thấy sự chủ động của người lính, kể cả khi mệt mỏi đến tận cùng, kể cả khi đối diện với cái chết thể hiện sự ngang tàng, ngạo nghễ, chấp nhận cái chết một cách nhẹ nhõm, thanh thản. Nhà thơ không né tránh những mất mát, hi sinh (vì nó là một phần tất yếu của chiến tranh).

+ Ngòi bút miêu tả của nhà thơ lùi xa, ghi lại những nét biểu hiện bên ngoài của người chiến sĩ. Nhưng người đọc nhận ra, bên trong cái vẻ bất cần, mỏi mệt, kiệt sức kia là cả một ý chí, là sự dũng cảm, là tinh thần chấp nhận hi sinh, là tấm lòng yêu quê hương đất nước.

– Kỉ niệm về một lần dừng chân trên đường hành quân.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

+ Sự phối hợp của nhiều giác quan (thị giác, xúc giác, khứu giác) cho thấy sự ấm áp, thơm thảo của tình quân dân.

+ Một tập hợp từ độc đáo: “mùa em”. “Mùa” là từ chỉ đơn vị đo thời gian, cũng chỉ sự sinh sôi, dạt dào sức sống, chỉ sự tập trung, sự hái gặt thành quả sau quá trình nỗ lực. “Em” là cách xưng hô đầy tính tứ. “Mùa em” có thể là mùa lúa chín được gặp em, cũng có thể là mùa của niềm thương nỗi nhớ hướng về những tấm lòng thơm thảo, những dáng hình thân thương, những kí ức đã trở thành dấu ấn in sâu trong tim người lính:

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương

                                   (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)


2. Tám câu thơ tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương lạnh nơi núi rừng miền Tây.

a. Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân

– Câu 1: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

+ Từ “bừng” diễn tả ánh sáng xuất hiện một cách bất ngờ, với cường độ mạnh xua tan cái tăm tối, lạnh lẽo, cái âm u hoang vắng của núi rừng miền Tây. Đặt giữa câu thơ, từ “bừng” còn diễn tả sự ngạc nhiên, niềm vui sướng, hào hứng của những người lính trẻ trước đêm liên hoan.

+ “Đuốc hoa” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Đó có thể là hình ảnh tả thực những ngọn đuốc bập bùng cháy trong đêm như những bông hoa lửa xòe nở giữa đêm đen nơi núi rừng Tây Bắc. Không những thế, nó còn gợi lên trong người đọc sự liên tưởng thú vị đến “đuốc hoa” (hoa chúc) – một hình ảnh gắn liền với đêm tân hôn hạnh phúc của những đôi uyên ương. (thành ngữ Hán Việt có câu: “Động phòng hoa chúc” còn dân ca Quan họ cũng có lời hát: “Còn duyên ngồi gốc cây thông – Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa – Có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà – Cho thầy mẹ biết để đuốc hoa định ngày”). Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn nhận ra nét tài hoa, tình tứ, lãng mạn và cả những mong ước thầm kín rất người trong tâm hồn những chàng trai trẻ Hà Thành.

+ Chính cái nhìn lãng mạn, hào hoa, đa tình, đa tài ấy đã biến không gian vốn khô cứng, chỉ gợi lên sự trật tự, kỉ luật – doanh trại, nay bỗng ngập tràn ánh sáng, sự ấm áp, niềm vui say náo nức của những chàng trai, cô gái trẻ trung, đầy sức sống. Trong phút chốc, doanh trại đã trở thành sân khấu cho đêm hội ánh sáng lung linh, huyền ảo giữa núi rừng.

– Câu 2: Kìa em xiêm áo tự bao giờ

+ Từ “kìa” (kết hợp với cụm từ “tự bao giờ”) diễn tả sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trong ánh mắt nhìn người lính trẻ trước sự xuất hiện của những cô gái miền sơn cước.

+ Hình ảnh những sơn nữ không được miêu tả kĩ lưỡng ở chân dung, ở nhan sắc nhưng qua ánh mắt đa tình, cái nhìn tinh tế, lãng mạn của người lính Tây Tiến, người đọc thấy hiện lên bóng hình những cô gái xinh đẹp, tài hoa, duyên dáng – đẹp một vẻ đẹp rất riêng của mảnh đất phương xa, xứ lạ. Vẻ đẹp ấy đã cuốn những chàng trai trẻ Hà Thành đi từ ngạc nhiên, thích thú đến say mê, đắm đuối trong một đêm hội của nhạc, của thơ, của mơ.

+ Ấn tượng đầu tiên về người sơn nữ miền Tây là những bộ trang phục. Từ “xiêm áo” (chứ không phải “váy áo, quần áo”) là từ cổ, mang sắc thái trang trọng, thể hiện cái nhìn ngạc nhiên của người lính khi bắt gặp những bộ trang phục cầu kì, lộng lẫy và hết sức mới lạ của những cô gái đồng bào dân tộc ít người.

– Câu 3: Khèn lên man điệu nàng e ấp

+ Không chỉ là đêm hội của ánh sáng, đó còn là đêm hội rộn rã âm thanh và nhịp nhàng điệu múa. “Khèn” một nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong tiếng khèn là cả hồn vía của núi rừng, cả tâm tư, tình cảm của con người nơi đây, tiếng khèn cất lên làm sống dậy cả một không gian văn hóa đậm màu sắc bản địa. “Man điệu” (điệu nhạc, điệu múa của các dân tộc thiểu số) – những vũ điệu mới mẻ, cuốn hút đầy mãnh lực trước con mắt ngạc nhiên, ngỡ ngàng và say mê của những chàng lính trẻ.

+ Sự say mê ấy được thể hiện qua sự chuyển đổi đại từ nhân xưng: “em” – “nàng” đầy tình tứ. Cái dáng điệu “e ấp” càng gợi lên sự duyên dáng, mềm mại, kín đáo, ý nhị mà tình tứ của người con gái.

– Câu 4: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

+ Tâm hồn lâng lâng, bay bổng theo tiếng khèn dìu dặt, ánh mắt đã đầy say mê dõi theo từng nhịp múa để rồi thăng hoa trong cảm xúc trào dâng của nhạc, của thơ. Câu thơ cuối có rất nhiều thanh bằng diễn tả cảm giác say mê, bay bổng. Tiếng nhạc đã nâng cánh để tâm hồn người lính bay đến kinh đô của cõi thơ, cõi mơ, cõi mộng. Mở đầu câu thơ là “nhạc”, khép lại là “thơ”, và giữa hai “đường biên xúc cảm” ấy là hình ảnh người lính đang say sưa ngây ngất đắm chìm trong bữa tiệc thịnh soạn của tâm hồn với những đặc sản của phương xa xứ lạ.

=> Đoạn thơ 4 câu tái hiện lại một buổi liên hoan văn nghệ ấm tính quân dân, mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc miền núi Tây Bắc đã thể hiện vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, nét đa tình, trẻ trung của người lính Tây Tiến. Với những khoảnh khắc ấy, người lính không thoát li thực tại, trốn chạy khỏi thực tế mà ngược lại, trở thành niềm động viên, thành sự mềm mại, bình yên cần thiết để người lính lấy lại sự cân bằng sau những gian khổ, hi sinh, để tiếp tục cầm súng chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc.

 

b. Nỗi nhớ về thiên nhiên, con người miền Tây trong một buổi chiều sương lạnh

– Câu 1. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Câu thơ có nhân vật (người đi), có không gian (Châu Mộc), có thời gian (chiều sương ấy) nhưng tất cả đều mờ ảo trong cảm giác xa xôi, u buồn, tiếc nhớ.

Hai câu thơ tiếp nối là hai câu hỏi nêu ra như niềm băn khoăn cần một lời xác quyết, cũng là một cách để gợi mở kỉ niệm.

– Câu 2. Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Hồn lau: Những vạt lau trắng xám là một hình ảnh rất đặc trưng cho núi rừng miền Tây (Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son – Tố Hữu). Nhưng ở đây, lau được nhân hóa, ẩn dụ – “hồn lau” (hay chính là hồn của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc trong buổi chiều hoang lạnh đã kết tụ lại nơi những bông lau phơ phất), cũng mang tâm hồn, cũng biết nhớ biết thương.

+ Nẻo bến bờ: không gian xa xôi, heo hút, vắng vẻ, cô tịch.

+ Tác giả hỏi “có thấy”: để nhìn thấy những hình dáng vạt lau, người ta chỉ cần sự quan sát của thị giác, nhưng để cảm được “hồn lau”, người ta phải sống, phải đi, phải thuộc mảnh đất này nhiều lắm, và cũng phải có cả sự lãng mạn, sự tinh tế trong tâm hồn mới có thể nhận ra điều đó.

– Câu 3 – 4. Có nhớ dáng người trên độc mộc – Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ Giữa thiên nhiên bàng bạc màu trắng của sương, của lau, màu của kí ức, của sự lãng quên, của cái hoang lạnh, ảo mờ một buổi chiều núi rừng miền Tây, nổi bật lên hình ảnh của người sơn nữ miền Tây. Không tả chân dung, nhan sắc cũng không tả trang phục, hiện lên sắc nét trong kí ức người lính là “dáng người” của cô gái.

+ “Độc mộc”: loại thuyền nhỏ làm từ thân một cây gỗ, phương tiện di chuyển chủ yếu trên sông, trên suối, vượt thác băng rừng của người dân miền núi. Để điều khiển con thuyền ấy, không chỉ đòi hỏi sự khỏe mạnh, bản lĩnh, kinh nghiệm mà còn cần cả sự khéo léo, uyển chuyển. Hình ảnh cô gái chèo thuyền độc mộc băng thác lũ mưa rừng gợi vẻ đẹp rắn giỏi, kiên cường, mạnh mẽ khỏe khoắn và cả sự tài khéo của con người miền Tây – những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên.

+ “Hoa” có thể hiểu theo nghĩa thực (hoa rừng), cũng có thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ (người con gái xinh đẹp, duyên dáng tựa bông hoa rừng). Từ láy “đong đưa” (chứ không phải “đung đưa”) cho thấy nét duyên dáng, uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại đầy nữ tính. Sự dữ dội, bạo liệt, hiểm nguy của thiên nhiên, của thác lũ mưa ngàn không đe dọa, nhấn chìm, vùi dập con người, mà ngược lại trở thành phông nền, làm tôn thêm cho bản lĩnh và vẻ đẹp của con người. Phải đặt trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội ấy vẻ đẹp của con người miền Tây mới thực sự nổi bật: vẻ đẹp khỏe khoắn, mềm mại của những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên, cuộc đời (khác hẳn với hình ảnh bất lực trước số phận của con người trung đại trong Truyện Kiều “Hoa trôi man mác biết là về đâu”).

+ Qua bức tranh thủy mặc về đất và người miền Tây, người đọc còn nhận ra sự tài hoa, tinh tế, nét lãng mạn, đa tình của những người lính Tây Tiến, những đứa con từ giã Hà Thành hoa lệ để ra nơi biên viễn chiến đấu bảo vệ quê hương, khám phá những vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam.

3. Bức tượng đài bi tráng, bất tử về người lính Tây Tiến

a. Chân dung người chiến binh Tây Tiến

– Bức chân dung ngoại hình của lính Tây Tiến. Hai câu thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

+ Nghệ thuật đảo ngữ nhằm nhấn mạnh, khắc sâu ấn tượng về cái tên Tây Tiến, cái tên, chỉ riêng nó thôi, đã gợi lại trong lòng nhà thơ không biết bao nhiêu kỉ niệm về một quãng đời không thể nào quên. Không những thế, vượt qua gió bụi thời gian, Tây Tiến đã đi vào lịch sử như một đoàn quân có một không hai, là chủ nhân và chứng nhân của một thời đại hào hùng mà gian khó của dân tộc.

+ “Không mọc tóc”: cách nói rất ấn tượng, thật đến trần trụi, đến khốc liệt. Không mọc tóc có thể là do lính Tây Tiến tự cắt tóc do yêu cầu của quân ngũ, nhưng đúng hơn, đó là cách nói về cả một đoàn quân tóc bị rụng dần đi do những khắc nghiệt của nơi núi rừng lam chướng miền Tây, của những thiếu thốn, gian khổ trong những ngày đầu kháng chiến. Nhưng hình ảnh cả đoàn quân “không mọc tóc” không gợi lên sự yếu đuối, tàn tạ mà ngược lại, qua cách đặt câu ở thể chủ động, người đọc nhận ra hình ảnh đoàn quân kiêu hùng, ngang tàng, bất chấp mọi hiểm nguy, gian khó. Những cái đầu “bướng bỉnh” ấy vẫn kiêu hãnh ngẩng cao, vẫn nhìn thẳng về phía trước.

+ “Quân xanh màu lá” cũng là một sự miêu tả hiện thực. Màu xanh ấy có thể là xanh áo, xanh quần, xanh cây xanh lá ngụy trang, xanh rừng xanh núi miền Tây. Nhưng đó cũng có thể là hình ảnh xót xa về những người lính da xanh nhợt vì đói ăn, vì khát uống, vì bệnh tật (nhất là sốt rét rừng), vì thiếu thốn trăm bề.

+ “Dữ oai hùm”: cách nói ẩn dụ độc đáo. Bên trong cái ngoại hình tưởng như tiều tụy, nhợt nhạt kia là cả một khí phách, một bản lĩnh kiên cường, một sự oai nghiêm, dữ dằn đầy sức mạnh của vị chúa sơn lâm.

– Vẻ đẹp tâm hồn lính Tây Tiến

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Động từ “trừng” diễn tả một cái nhìn căng, thẳng, đầy nung nấu, như chứa đựng biết bao xúc cảm, hoài bão, cái nhìn hướng ra nơi “biên giới”, hướng về kẻ thù.

+ “Mộng biên giới”: giấc mộng giết giặc lập công của người chiến binh. Ta bắt gặp trong giấc mộng chiến binh ấy cái “nợ công danh”, cái chí tang bồng hồ thỉ của những trang hào kiệt, của những đấng trượng phu thuở nào.

+ Mộng gửi về nơi biên cương nhưng mơ thì lại hướng về Hà Nội – thành phố quê hương thân yêu. Hà Nội gắn liền với hình ảnh của những kiều nữ đất Hà thành, người “em gái nhỏ hậu phương” vẫn thường đi về trong nỗi nhớ niềm thương, trong giấc mơ của những người lính trẻ. Những thiếu nữ lên hương (thơm), lên sắc (dáng kiều) trong thơ Quang Dũng đã thể hiện tâm hồn lãng mạn, đa tình cũng như những khát khao thầm kín về một hạnh phúc lứa đôi, về một cuộc sống sum vầy của những người lính trẻ.

b. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

– Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thể hiện không khí trang nghiêm, lòng thành kính của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống. Chính hệ thống từ ngữ ấy kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi (biên cương, chiến trường, áo bào, khúc độc hành) cũng tạo sắc thái cổ kính, gợi liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt của những anh hùng, dũng tướng sẵn sàng chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây” đầy bi tráng của văn học trung đại.

– Câu thơ đầu: rất nhiều từ Hán Việt nhưng sức nặng của cả câu lại dồn vào một từ thuần Việt: “mồ”. Mồ cũng là mộ, nhưng tại sao tác giả lại dùng cách nói thuần Việt? Là bởi những nấm mộ của các anh không hoàn toàn là mộ theo đúng nghĩa, chỉ là những nấm đất được đào vội, chôn mau ngay trên đường hành quân để đoàn quân tiếp tục lên đường. Đặt trong không gian nơi biên cương, miền viễn xứ, những nấm mồ ấy gợi lên bao nỗi xót xa.

– Câu 2: nghệ thuật đảo ngữ (chiến trường đi) nhấn mạnh đích đến. Chiến trường là đích duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệm của cả một (hơn một) thế hệ. Với họ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến chống quân thù”. Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát, sự quyết tâm, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng hi sinh cả “đời xanh” tuổi trẻ, cả tính mạng của mình cho Tổ quốc. Nhà thơ nói “chẳng tiếc”, nhưng tuổi trẻ đẹp thế, cuộc đời tươi thế, có thật là “chẳng tiếc” không? Nhưng ai cũng tiếc thì còn chi đất nước?

– Câu 3: “Áo bào thay chiếu” một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh nhưng cái thiếu thốn về vật chất lại được khỏa lấp bằng sự hiên ngang, can trường của người lính. Trong mắt họ, những tấm chiếu manh kia chính là những tấm chiến bào của người dũng tướng cũng họ vào cõi vĩnh hằng. Cách nói “về đất” không chỉ là cách nói giảm, nói tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng, xâu xa. Chết không phải là ra đi vào cõi hư vô mà là trở về, trở về với Đất mẹ thân yêu. Đất mẹ cũng mở lòng đón những đứa con ưu tú của mình. Các anh đã ngã xuống, đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất tên làng đều có hình bóng các anh. (Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất – Có một phần xương thịt của em tôi)

– Câu 4: Sông Mã mở đầu cho cuộc hành trình trở về Tây Tiến trong kí ức của nhà thơ, cũng là chứng nhân, là thân nhân đưa tiễn những đứa con của đoàn quân ấy về lòng đất mẹ. Dòng sông không mênh mang, chơi vơi trong tiếng gọi tha thiết nhớ thương mà giờ đây nó gầm lên trong cơn giận dữ kìm nén, trong đau thương uất nghẹn. Không hát, không thét, không khóc mà “gầm lên khúc độc hành”. Đau thương đã biến thành sức mạnh, thành lòng căm thù, thành sự quyết tâm, thành ý chí sắt đá. Dòng sông khi phải tiễn biệt những người lính Tây Tiến, bỗng trở nên cô đơn trong cuộc hành trình về biển lớn. “Độc hành”, đó là cuộc hành trình của dòng sông, của người đã khuất hay của người đang sống. Ta không thể trả lời xác quyết, song điều chắc chắn là sự ra đi của các anh là những mất mát, thiếu hụt không gì có thể bù đắp được, để lại sự tiếc thương, xót xa, cả sự hụt hẫng cho những người đồng đội.

4. Lời ước hẹn thủy chung, son sắt

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

 

– Khổ cuối như khúc vĩ thanh, khép lại bài thơ, để lại trong lòng người đọc biết bao dư ba, xúc động. Đó là lời ước hẹn thủy chung, son sắt với mảnh đất, với con người miền Tây, với những người đồng đội từng chia sẻ thiếu thốn, gian nguy, từng vào sinh ra tử.

– Hàng loạt các từ ngữ “không hẹn ước”, “thăm thẳm”, “chia phôi”, “chẳng về xuôi” cho thấy một tâm thế dứt khoát, vững vàng của người lính. Từ giã gia đình đi ra nơi biên cương, miền chiến địa, họ coi đó là “cuộc chia phôi” không hẹn ước.

– “Mùa xuân ấy” có thể là từ ngữ gợi nhắc thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947) cũng gợi liên tưởng đến những con người mang tuổi xuân, chẳng tiếc đời xanh của mình để góp phần làm nên mùa xuân lớn cho Tổ quốc. Họ đã để lại nơi những cánh rừng, dòng sông, ngọn núi, bản làng nơi biên cương Tổ quốc một phần tuổi trẻ, một quãng đời oanh liệt, hào hùng với những kỉ niệm không bao giờ có thể nguôi quên. Một phần tâm hồn họ, mãi mãi vấn vương cùng mảnh đất chất chứa đầy kỉ niệm ấy. Và chúng ta, mỗi khi nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sông tên núi của mảnh đất miền biên viễn ấy, ta vẫn tự nhắc mình, có những con người đã sống, chiến đấu, hi sinh để bảo tồn hình hài Tổ quốc.

 

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: