Tag Archives: nghị luận xã hội

Đề thi thử THPT Quốc gia lần I – THPT Anhxtanh

KÌ THI THỬ THPT – LẦN 1

Thời gian làm bài: 180 phút

 

  1. PHẦN ĐỌc hiỂu (3,0 điểm)
    Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4

Tại buổi tọa đàm “Tác hại của rượu, bia và giải pháp” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với HealthBridge Canada tổ chức chiều 19/10, bà Hoàng Anh, Giám đốc HealthBridge Canada cho biết, theo thống kê mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ hơn 3 tỷ lít bia và gần 68 triệu lít rượu, tương ứng chi phí khoảng 3 tỷ USD/năm.

Nghiên cứu ảnh hưởng của rượu bia đến đói nghèo và đặc điểm của các gia đình sử dụng rượu bia thường xuyên tại Việt Nam cho thấy, 57,72% hộ  gia đình Việt thường xuyên dùng rượu bia và càng những hộ gia đình giàu có, có học vấn cao tiêu dùng rượu bia càng nhiều hơn.

Ở các gia đình sống dưới ngưỡng nghèo, số tiền chi cho rượu bia tương đương 146 cốc bia rượu/năm, trong khi số tiền mua sữa cho trẻ em ở các gia đình này chưa đủ mua một cốc sữa tươi/năm.

Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam giai đoạn 2010 cho thấy,  gần 67% người lái xe ô tô và 36% người đi xe máy nhập viện vì chấn thương giao thông, có nồng độ cồn cao hơn mức cho phép. 1/5 các trường hợp tử vong do TNGT ở Việt Nam có nguyên nhân từ rượu bia.

Ngoài ra, rượu bia cũng là nguyên nhân lớn nhất gây ra trên 33% các vụ bạo lực gia đình ở Việt Nam. Người say rượu bia cũng dễ dàng xúc phạm, lăng mạ, mắng chửi trẻ em; bỏ mặc chăm sóc trẻ, thậm chí đánh đập, gây đau đớn về thể xác…

(Theo baogiaothong.vn đăng tải ngày 21/10/2015)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

Câu 2. Theo thông tin từ bài báo, việc uống rượu bia đã mang đến những tác hại gì?

Câu 3. Theo anh/chị, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng người Việt uống nhiều rượu bia đến vậy?

Câu 4. Anh/chị hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 câu) đề xuất những kiến nghị, giải pháp để hạn chế tác hại do việc uống rượu bia gây ra.

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6:

Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng

Trái tim em, anh đã từng biết đấy

Anh là người coi thường của cải

Nên nếu cần anh bán nó đi ngay

 

Em cũng không mong nó giống mặt trời

Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống

Lại mình anh với đêm dài câm lặng

Mà lòng anh xa cách với lòng em

Em trở về đúng nghĩa trái tim

Biết làm sống những hồng cầu đã chết

Biết lấy lại những gì đã mất

Biết rút gần khoảng cách của yêu tin

………..

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em

Là máu thịt, đời thường ai chẳng có

Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

                                    (Tự hát, Xuân Quỳnh)

Câu 5. Trong khổ thơ đầu, tại sao “em” không ước trái tim mình bằng vàng? Từ đó, nhà thơ thể hiện quan niệm của mình về tình yêu như thế nào?

Câu 6. Ở khổ thơ thứ hai, “em” lại không mong trái tim mình giống mặt trời. Lí lẽ của nhà thơ là gì?

Câu 7. Hai khổ thơ đâu tác giả dùng cách nói phủ định để đến hai khổ thơ sau khẳng định ước vọng tha thiết của mình: “trở về đúng nghĩa trái tim”. Trái tim ấy có đặc điểm gì?

Câu 8. Câu thơ “Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” dường như một nghịch lí. Nhưng từ cái tưởng như “phi lí” ấy, người đọc nhận ra được điều gì rất “có lí” về trái tim người phụ nữ khi yêu?

Trong bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh cũng mượn một sự phi lí để nói cái có lí của tâm trạng người phụ nữ khi yêu. Anh/chị hãy chép lại câu thơ trong bài thơ Sóng thể hiện điều đó.

  1. PHẦN Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”

Anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Câu 2 (4,0 điểm) Nói về truyện ngắn Rừng xà nu (của Nguyễn Trung Thành), có ý kiến cho rằng tác phẩm tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của thiên nhiên, núi rừng Tây Nguyên. Nhưng cũng có ý kiến khác khẳng định truyện ngắn tập trung ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất của con người Tây Nguyên những năm đánh Mĩ.

Dựa vào hiểu biết của mình về truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, anh/chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của anh/chị về những ý kiến trên.

Advertisements

Cách làm dạng bài nghị luận xã hội

Aotrang3

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

TRONG ĐỀ THI ĐẠI HỌC

A. NHẬN DIỆN VÀ PHÂN DẠNG

1. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

VD2: Câu II (3,0 điểm) ĐH D-2011

Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích. 

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD3: Câu II (3,0 điểm) ĐH C-2011

Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD4: Câu II (3,0 điểm)  ĐH D-2009

Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau:

Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.

                               (Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2008, tr. 90) 

 

2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

VD1: Câu 2 (3,0 điểm)  ĐH khối D-2012

Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa.

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

VD2: Câu II (3,0 điểm)  ĐH C-2010

Như một thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội.

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay. 

VD3: Câu II (3,0 điểm)  ĐH D-2010

Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng.

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.

VD4: Câu II (3,0 điểm)  ĐH C-2009

Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A. Lin-côn (1809 – 1865) viết: “xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi.” (Theo Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục, 2006, tr. 135).

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống.

 

3. Nghị luận về một hiện tượng/vấn đề được đặt ra từ tác phẩm văn học

– Sống nhanh, sống vội, sống gấp trong Vội vàng

– Bạo hành gia đình trong Chiếc thuyền ngoài xa

– Sự suy đồi đạo đức gia đình qua Hạnh phúc của một tang gia

– Tình trạng tha hóa của con người khi bị đẩy vào bước đường cùng qua Chí Phèo

– Quyền được học tập, vui chơi của trẻ em qua Hai đứa trẻ

– Những hủ tục lạc hậu và tác hại của nó với đời sống xã hội và mỗi cá nhân qua Vợ chồng A Phủ

– Ước vọng hoàn thiện nhân cách, sống là chính mình qua Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

– Lòng nhân ái, sẻ chia với những số phận bất hạnh qua Vợ nhặt

– Ý thức trách nhiệm với Tổ quốc, tinh thần yêu nước của tuổi trẻ qua Những đứa con trong gia đình

– Mối quan hệ giữa rừng và cuộc sống con người qua Rừng xà nu

– Thư pháp – một thú chơi tao nhã, một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa đang được hồi sinh trong cuộc sống hiện đại (qua Chữ người tử tù)

 Chú ý: Dạng đề này chưa bao giờ xuất hiện trong các đề thi Đại học. Nhưng dưới yêu cầu của xã hội trong việc đổi mới cách ra đề cũng như áp lực của việc tự đổi mới, tránh sự mòn sáo, buồn tẻ, công thức, dạng đề này rất có thể được trình làng trong những mùa thi tới. Nhắc mới nhớ, đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 thành phố Hà Nội năm 2013-2014 đã hỏi một câu dạng này rồi (cảm nghĩ về những người lính đang bảo vệ biển đảo quê hương khi đọc Hoàng Lê nhất thống chí. Đấy có thể là một dấu hiệu báo trước những sự thay đổi sắp diễn ra.

4. Các dạng đề khác

Còn một dạng đề nữa, Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra từ một mẩu chuyện giàu ý nghĩa (truyện có thể là một tác phẩm văn học/hư cấu hoặc là một câu chuyện có thật nhưng mang nhiều ý nghĩa “ngụ ngôn”). Đây cũng là dạng đề chưa bao giờ xuất hiện trong Đề thi ĐH-CĐ, nhưng trong xu hướng ngày càng dân chủ hóa, cho phép độ mở lớn trong việc thể hiện quan điểm cá nhân của học sinh về các vấn đề xã hội, dạng đề này rất có thể sẽ xuất hiện trong thời gian tới. Nhắc mới nhớ, dạng đề này đã xuất hiện trong Đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 năm 2012-2013 của thành phố Hồ Chí Minh (câu chuyện gần giống như câu chuyện Chiếc bánh kem bên dưới đây).

Ví dụ: Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ), trình bày suy nghĩ của mình về câu chuyện sau:

 CHIẾC BÁNH KEM

 “- Ăn thêm cái nữa đi con!

– Ngán quá, con không ăn đâu!

– Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!

– Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!

Thằng bé lắc đầu quầy quậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xa rơi xuống đường, sát mép cống. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đi.

Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ, xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:

– Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn.

Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.

– Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh – Con bé nói rồi thút thít

– Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi.”

(Hạt giống tâm hồn)

 

B – CÁCH LÀM BÀI

1. Nguyên tắc chung

– Phân phối thời gian: nên dành khoảng 60 phút để hoàn thành bài viết

– Dung lượng (độ dài): 600 từ (khoảng 1000 chữ) tương đương khoảng 2 – 2,5 trang giấy thi

– Đừng mất quá nhiều thời gian để nghĩ mở bài văn hoa và kết bài ấn tượng. Phần ấy không có điểm đâu

– Luận điểm (ý) là quan trọng nhất nhưng hãy cố gắng diễn đạt ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, trôi chảy. Ý sắp xếp phải logic.

– Dẫn chứng là không thể thiếu. Mỗi bài chỉ cần có khoảng 3 dẫn chứng nhưng dẫn chứng đưa ra cần phải tiêu biểu, ấn tượng và phải được PHÂN TÍCH kĩ (đừng dừng lại ở mức độ NÊU dẫn chứng)

– Tuân thủ cấu trúc chung của một bài văn nghị luận để đảm bảo điểm số cho bài viết:

+ Giải thích vấn đề

+ Bình luận, chứng minh vấn đề

+ Bài học nhận thức và hành động

2. Cách làm các dạng bài cụ thể

a. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

– Giải thích vấn đề: Giải thích từ ngữ, khái niệm, hình ảnh, phép tu từ (nếu có, nếu cần) … rồi giải thích nội dung ý kiến/câu nói.

– Bình luận, chứng minh

* Bàn luận về mức độ đúng đắn, chính xác, sâu sắc của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:

Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:

+ Phân tích, chia tách tư tưởng đạo lí thành các khía cạnh để xem xét, đánh giá.

+ Dùng lí lẽ, lập luận và dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề tư tưởng, đạo lí được bàn luận.

+ Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc.

* Bàn luận về mức độ đầy đủ, toàn diện của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:

Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:

+ Người viết nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Tư tưởng đạo lí ấy đã đầy đủ, toàn diện chưa? Có thể bổ sung thêm điều gì?

+ Người viết cần lật đi lật lại vấn đề, xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác.

+ Người viết cần có bản lĩnh, lập trường tư tưởng vững vàng, cần có suy nghĩ riêng, dám đưa ra chính kiến riêng, miễn là có lí, có tinh thần xây dựng và phù hợp đạo lí.

– Bài học

+ Bài học nhận thức

+ Bài học hành động

 

b. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

– Giải thích vấn đề: Giải thích từ ngữ, khái niệm, hình ảnh, phép tu từ (nếu có, nếu cần) … rồi giải thích nội dung ý kiến/câu nói.

– Bình luận, chứng minh

+ Biểu hiện, Thực trạng của vấn đề

+ Hậu quả/kết quả của vấn đề

+ Nguyên nhân và giải pháp

– Bài học

+ Bài học nhận thức

+ Bài học hành động

c. Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra từ một tác phẩm văn học (đã học hoặc một mẩu chuyện)

Về cơ bản, làm giống như mô hình bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí (hoặc một hiện tượng xã hội). Nhưng chú ý, trong phần Giải thích vấn đề, cần xuất phát từ nội dung tác phẩm văn học để làm nổi bật vấn đề cần nghị luận rồi từ đó liên hệ với thực tế cuộc sống.

 

d. Một vài nhận xét quan trọng cần lưu ý

– Sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối. Thực tế, trong đề thi những năm qua có những đề thi rất khó để xếp riêng vào loại Nghị luận về hiện tượng đời sống hay về một tư tưởng, đạo lí. Điều ấy thực ra cũng không gây khó khăn nhiều khi ta thực sự nắm chắc bản chất của vấn đề cần nghị luận và hiểu cách làm một bài NLXH.

– Trong đề thi một vài năm trở lại đây, vấn đề cần nghị luận được nêu lên qua câu nói có nhiều vế (nghĩa là vấn đề cần nghị luận cần được xem xét dưới nhiều phương diện, khía cạnh, góc nhìn khác nhau). Với những câu hỏi ấy, cần trình bày linh hoạt các phần của bài nghị luận:

+ Giải thích: như trên (giải thích cả câu nói/ý kiến để xác định rõ vấn đề cần nghị luận)

+ Bình luận, chứng mình: Làm riêng cho từng vế. Xong vế này mới chuyển sang vế khác.

+ Bài học: chung

Tạm thế đã. Nhỉ?!

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)