Tag Archives: phân tích

Hướng dẫn làm dạng câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH

Suong khoi mo nhan anh

HƯỚNG DẪN LÀM DẠNG CÂU HỎI 2 ĐIỂM 

Dạng đề: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm

Phi lộ: Như đã trình bày trong bài giới thiệu khái quát về cách làm câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH-CĐ, thường có 4 dạng hay xuất hiện. Ở đây chỉ tập trung hướng dẫn làm dạng phổ biến nhất (trong khoảng 3 năm trở lại đây), gây nhiều khó khăn nhất cho các em học sinh: Dạng 1: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.

Trong đáp án của câu hỏi này thường đòi hỏi người viết trình bày được 2 nội dung cơ bản:

– Tái hiện chi tiết

– Ý nghĩa của chi tiết:

+ Ý nghĩa về nội dung

+ Ý nghĩa về nghệ thuật

Trong điều kiện thời gian có hạn (thực ra là sự lười nhác của thầy), thầy chỉ trình bày ngắn gọn phần Ý nghĩa của chi tiết, phần Tái hiện các em có thể xem lại trong Sách giáo khoa. Thầy sẽ tiếp tục cập nhật phần phân tích ý nghĩa của các chi tiết ở các tác phẩm khác.

VỢ CHỒNG A PHỦ

1. Ý nghĩa cảnh xử kiện trong vợ chồng a phủ
– Thể hiện sự bất công, tàn bạo của bọn cường hào dưới xã hội phong kiến miền núi. Vụ xử kiện như một cơ hội để chúng kiếm chác, bóp nặn những người dân nghèo vô tội, thấp cổ bé họng.
– Tình cảnh đau khổ, tủi nhục của những người dân lương thiện dưới ách áp bức của tầng lớp thống trị.
=> Giá trị hiện thực của tác phẩm

2. Ý nghĩa chi tết cảnh A Sử trói Mỵ
– Thói gia trưởng, sự tàn nhẫn, độc ác của bọn thống trị. Chúng trói thể xác Mị bằng một thúng sợi đay và trói cả tâm hồn, sức sống, khát vọng tự do, yêu đương qua hình ảnh mái tóc dài bị quấn chặt vào cột. Sau khi trói Mị, A Sử tắt đèn, đóng cửa, tiếp tục muốn giam cầm cô trong tăm tối của kiếp ngựa trâu.
– Tình trạng đau khổ, bế tắc, tủi cực của người phụ nữ khao khát sống, khao khát yêu thương nhưng mỗi lúc định vùng lên lại bị trà đạp, bị vùi dập tàn nhẫn.
=> Giá trị hiện thực (tố cáo sự tàn ác) và giá trị nhân đạo (xót thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của con người)

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

3. Ý nghĩa chi tiết Huấn Cao dỗ gông
– Thể hiện bản lĩnh cứng cỏi của một đại trượng phu, tuy đã sa cơ nhưng không chịu cúi đầu trước bạo quyền.
– Thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi sáng tạo một chi tiết thật độc đáo để khắc họa tính cách nhân vật.

4. Ý nghĩa chi tiết viên quản ngục so sánh Huấn Cao với “1 ngôi sao hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời ko định’
– Khẳng định và ngợi ca nhân phẩm, tài năng, khí phách của Huấn Cao, tấm lòng ấy, sự nghiệp ấy sáng tựa sao trời.
– Thể hiện sự tiếc thương đối với con người tài hoa khí phách sắp phải từ giã cõi đời.
– Qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc lựa chọn chi tiết đồng thời kín đáo thể hiện niềm kính ngưỡng của nhà văn với những con người mà nhân cách, tài năng đều ở vào hàng xuất chúng, kín đáo thể hiện lòng yêu nước.

CHÍ PHÈO

5. Ý nghĩa tiếng chửi chí phèo
– Thể hiện tâm trạng bi phẫn đến cùng cực của Chí Phèo khi bị xã hội tuyệt giao, không coi là một con người.
– Tiếng chửi là lời kết án toàn xã hội, cái xã hội vô nhân đã sinh ra hiện tượng Chí Phèo
– Thể hiện khát vọng được giao tiếp, được trở lại làm người của Chí Phèo
– Thể hiện tài năng nghệ thuật của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ trần thuật nửa trực tiếp, trong cách miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật.

6. Ý nghĩa hành động của viên ngục quan: “ngục quan cảm động,vái người tù 1 vái,chắp tay nói 1 câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
– Thể hiện sự xúc động, niềm kính ngưỡng của quản ngục với Huấn Cao.
– Cái cúi đầu bái lĩnh của quản ngục phải hiểu là cái cúi đầu trước vẻ đẹp của tài năng, khí phách và thiên lương. Đó là sự toàn thắng của cái thiện trước cái ác, cái đẹp trước cái xấu.
– Hành động ấy tôn vinh cả hai người: người vái lạy và người được vái lạy.

7. Ý nghĩa chi tiết rạch mặt ăn vạ của chí phèo ở nhà bá kiến
– Đánh dấu sự thay đổi trong tính cách Chí: từ một người nông dân hiền lành lương thiện thành kẻ lưu manh.
– Khẳng định bi kịch của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng, bị lưu manh hóa, phải bán cả nhân hình, nhân tính để tồn tại
– Thể hiện bản chất thâm hiểm, gian hùng của Bá Kiến

8. Ý nghĩa chi tiết: “Hình như có 1 thời hắn đã ước ao có 1 gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải…”
– Thể hiện phần tốt đẹp, lương thiện không bao giờ mất đi trong con người Chí. Việc Chí nhớ lại cái ước mơ thuở nào đánh dấu quá trình thức tỉnh và khát khao trở thành người lương thiện của anh.
– Thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm khi nhà văn phát hiện, nâng niu, trân trọng những phần tốt đẹp bị khuất lấp, bị lãng quên, bị vùi sâu bên trong cái vẻ ngoài độc dữ, thú vật của Chí.
– Thể hiện tài năng trong nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn.

9. Ý nghĩa chi tiết cái lò gạch cũ
– Xuất hiện mở đầu và kết thúc tác phẩm tạo nên kiểu kết cấu vòng tròn (kết cấu đầu cuối tương ứng), khẳng định một quy luật xã hội khốc liệt: chừng nào chưa thay đổi tận gốc xã hội thì hiện tượng Chí Phèo sẽ vẫn còn tồn tại.
– Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc, toàn diện của nhà văn.

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Advertisements

Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

Song Da

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Câu hỏi ôn tập trọng tâm thi Tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng

Câu 1. Trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. 

Câu 2. Nêu hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo và những đặc sắc nghệ thuật của tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 3. Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 4. Phân tích hình tượng ông đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 5. So sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù và nhân vật ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 6. Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)
                           (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao,
                                                               Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 157)
   (…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)
                                                 (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường,
                                                         Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)

Bài văn tham khảo

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

Bài 03. Bình giảng đoạn văn sau đây trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân:

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịch không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Phọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng có sương, chăm chăm nhìn tôi lừ đừ trôi trên một mũi đỏ. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Bài 04. Phân tích, cảm nhận về tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 05. Phân tích hình tượng ông lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

BÀI LÀM

Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc). Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân.

Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình.

Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy thác (thủy) so sánh với lửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại.

Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh. Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình (…) ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ…

Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người.

Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà… Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống.

Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ  truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc.

Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.

(Thầy Nguyễn Quang Trung)

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

BÀI LÀM

Sông Đà – một trận đồ tự nhiên hùng vĩ, được xây dựng bằng hai chất liệu nước và đá, lỏng và cứng, cuồn cuộn tuôn dài, nhấp nhô ngang dọc mà tạo hoá đã ban cho vùng Tây Bắc nước Nam ta. Công trình tự nhiên ấy đã và đang biến đổi theo thời gian. Còn một công trình Sông Đà nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ mà Nguyễn Tuân đã để lại cho lịch sử văn học Việt Nam, để lại cho đời trên trang tuỳ bút thì mãi mãi vẫn còn nguyên vẹn, vẹn nguyên.

Đọc Người lái đò Sông Đà, ta như gặp được một cây đại bút “thông tạo hoá” và một ông đò cũng “thấu càn khôn”. Cả hai đều thấu hiểu sự ảo diệu của tự nhiên, đều nắm vững quy luật xung – hợp, sinh – khắc chế hoá lẫn nhau của vũ trụ. Trên trang tuỳ bút, Sông Đà vừa cất giấu, vừa phô bày vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá – một vẻ đẹp vừa hung hãn, như hoang dại lại như tình tứ mộng mơ. Ông đò Lai Châu vừa là người lao động lực lưỡng, gân guốc, vừa là nghệ sĩ tài ba. Nhiều lúc ta như thấy Nguyễn Tuân hoá thân vào ông đò Lai Châu. Tay lái của ông đò cảm đâu là ứng đó, ứng đâu là hành đó không sớm cũng không muộn, qua bao thác ghềnh vẫn cứ bình an. Phải chăng trời đã cho ông tuệ nhãn? Thân hình ông khoẻ mạnh “gọn quánh như chất sừng, chất mun”. Ông còn là nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh. Chất nghệ sĩ trong ông là ở cánh tay chèo lái là ở đôi chân giữ thế tạo đà cứ như là vũ điệu vừa nhịp nhàng vừa ăn ý với bản nhạc giao hưởng của nước sông, của đá núi, của gió ngàn. Nhưng cái chính của chất nghệ sĩ trong ông là lòng yêu đời, yêu nghề, say mê khám phá sự huyền diệu cứ bay lên với đôi cánh lãng mạn. Miêu tả ông lái đò Lai Châu, Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc những thông điệp gì? Cuộc sống không phải lúc nào cũng như khúc sông phẳng lặng mà có lúc, nhiều lúc thác ghềnh. Sống là phải biết chấp nhận, phải bơi lội, chèo lái để vượt qua thác, băng qua ghềnh chứ không phải là kéo thuyền lên bờ để ngắm nhìn để chờ đợi? Những đoạn văn Nguyễn Tuân miêu tả ghềnh thác ở Sông Đà làm cho người đọc vừa sợ lại vừa yêu, vừa muốn lánh xa lại vừa muốn lăn vào. Đây là ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số: “Nước xô đá đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”. Và đây nữa: “…. còn xa lắm mới đến cái thác dưới nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lên, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa.” “Sóng thác đã đánh đến đòn độc hiểm nhất…. Mặt sông trong tích tắc loé sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng… Ông đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Nguyễn Tuân vừa biết dùng người, viết câu hay, tả cảnh hợp, tả tình sâu nên cuốn hút người đọc và tôn vinh vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên. Văn của Nguyễn Tuân đúng là như thế vừa “chân nhân” vừa “chân trí” – một thứ văn ngang dọc. Tai nghe tiếng nước, mắt ngắm xoáy sâu, câu văn đã dứt mà âm thanh vẫn còn vang vọng, khí văn vẫn còn phảng phất như khói mây. Vượt qua 73 thác ghềnh, ông đò Lai Châu vẫn đĩnh ngộ thông tuệ, không để luỵ tâm, không làm tổn trí. Đi thuyền không sợ thác ghềnh vừa là dũng lược vừa là mưu lược của Nguyễn Tuân và ông đò Lai Châu. Nguyễn Tuân quan sát ông đò chèo lái con thuyền then vuốt đuôi én, giống như thầy trò Khổng Tử xem người đàn ông bơi ở Lã Lương. Nguyễn Tuân cùng với người lái đò Sông Đà vừa tìm kiếm vừa khám phá, vừa chinh phục lại vừa tôn vinh. “Thạch trận” trên Sông Đà. Cách xa Nguyễn Tuân, cách xa chúng ta mấy trăm năm về trước, Nhà Bác học, Nhà Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn cũng đã viết về sông Đà. Bên cạnh những ghềnh thác hiểm trở, Lê Quý Đôn còn cho ta biết nhiều tư liệu kỳ thú: “Hạ lưu Vạn bờ… có núi Ngải trước mặt trông ra sông Đà, đối ngạn là xứ Ngòi Lạt, trên núi có cây Ngải Tiên. Mùa xuân hoa rụng xuống nước, cá uống nước này liền vượt được Long Môn hoá rồng… sông Đà nước sông trong suốt, chảy xuống các động Phà Tây, Hảo Tề thuộc châu Quỳnh Nha… Đường sông thác ghềnh hiểm trở, gồm 83 thác có tiếng mà Vạn bờ là thác nguy hiểm thứ nhất” (Kiến văn tiểu lục – trang 345)

Nguyễn Tuân đã không còn để pha màu, chế bản, tạo hình tôn vinh những mẫu đẹp cho đời đã 20 năm nay nhưng trên những trang viết chứa học thuật, tụ tinh hoa, phong độ Nguyễn Tuân vẫn như núi đứng, tinh thần Nguyễn Tuân vẫn như mây bay. Những bản nhạc của nước của đá, của thác của ghềnh, người đọc, người học lắng nghe để mà nghĩ tới cái âm vang sâu thẳm nơi cõi lòng tác giả? Ghềnh sông dài, thác sông lớn, xoáy nước sâu đã khơi dậy những gì tiềm ẩn nơi sâu kín nhất, u linh nhất của tác giả và ông đò Lai Châu. Ghềnh và thác trong tự nhiên cũng là ghềnh và thác trong cuộc sống đã bung nở trong nhãn tuệ của Nguyễn Tuân để Nguyễn Tuân gửi tới người đọc, người học qua thiên tuỳ bút có thần.

(Nguồn: Sưu tầm)

Bài 03. Bình giảng đoạn văn trong tùy bút Người lái đò sông Đà

Bài 03. Bình giảng đoạn văn trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

BÀI LÀM

Người lái đò Sông Đà là một bút kí rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập Sông Đà (1960). Hình ảnh con sông Đà với hai đặc tính nổi bật là “hung bạo và trữ tình” đã được khắc hoạ thật đậm nét. Để có thể khách thể hóa được đối tượng và “đóng đinh” nó vào trí nhớ độc giả, Nguyễn Tuân đã tung ra nhiều “độc chiêu” ngôn ngữ tưởng chi mình không mới có. Khi miêu tả những con thác vô cùng “độc dữ, nham hiểm”, câu văn của ông mang nhịp điệu dồn dập, kích thích. Nhưng khi ca ngợi “con sông Đà gợi cảm”, câu văn lại thư duỗi hết sức êm ả nghe như một tiếng hát ngân nga. Văn Nguyễn Tuân gồm chứa cả hai cực đó là cực thứ hai – cực trữ tình mềm mại và thấm đượm một thứ “mĩ học hoài cựu” độc đáo được thể hiện rất rõ trong đoạn văn từ câu “Thuyền trôi trên sông” đến câu… “khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Nội dung của đoạn văn là nói về vẻ thơ mộng của Sông Đà ở quãng trung lưu. Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. Thuyền được trôi êm và câu văn mở đầu vì thế cũng trở nên lâng lâng, mơ màng, không vướng víu với một thanh trắc nào: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”. Cái ý “lặng lờ” được nhắc đi nhắc lại mấy lần theo một kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ: “Cảnh ven sông ở đây lặng lờ, hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ như thế là thôi”, nghĩa là không thể lặng lờ hơn được nữa! Thiên nhiên thật hài hòa và mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, dành riêng cho con mắt nhìn “xanh non” của tác giả những hình ảnh kì thú: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Cảnh đã làm cho vị tình nhân của non nước Đà giang hết sức xúc động. Ông thấy cần phải nói thêm nữa để diễn tả cho cùng kiệt đặc tính của đối tượng: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Những so sánh lạ lẫm, chính xác mà cũng thật Nguyễn Tuân! Nhà văn đã đi ngược thói quen, đem giải thích một đặc tính vốn đã khá trừu tượng bằng những khái niệm trừu tượng hơn nữa, khiến cho cảm giác trực tiếp bỗng mở ra những liên tưởng trùng trùng, bát ngát. Đi từ “hoang dại”, “hồn nhiên” là cái còn có thể cảm nhận được, đến “tiền sử” và “nỗi niềm cổ tích ngày xưa”, câu văn đã cập bờ siêu cảm giác, đòi hỏi người đọc phải tiếp nhận nó bằng siêu giác quan chứ không phải bằng giác quan bình thường. Trong câu tiếp theo: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên

Bái – Lai Châu”, một mặt nhà văn bộc lộ thèm ước muốn có tiếng còi kéo mình ra khỏi mạng lưới vô hình mà quấn chặt của giấc mơ xưa, mặt khác tạo nên một cái cớ tuyệt diệu để biến cả một đoạn văn thành một bài thơ siêu thực mà trong đó giữa người với cảnh có sự tương thông rất đỗi huyền nhiệm và cái hư phút chốc biến thành cái thực: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ đừ trôi trên một mũi đỏ. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”

Người mơ cảnh cũng mơ, và cái thời điểm “ông khách sông Đà” bỗng nghe ra tiếng chú hươu gọi hỏi chính là đỉnh điểm của giấc mơ đó. Nhà văn đã khéo tạo được một giấc mơ ngay giữa ban ngày để rồi sau đó như sực tỉnh với tiếng động của “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Phút sực tỉnh cũng là phút nhà văn hiến cho độc giả một hình ảnh cực kỳ sống động mà ai được một lần thấy trong đời hẳn phải nhớ mãi. Bút pháp mượn cái động để tả cái tĩnh đã được vận dụng ở đây hết sức đắc địa. Cảnh tĩnh lặng đến mức chỉ tiếng cá quẫy cũng đủ khiến ta phải giật mình. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cái tĩnh không đồng nghĩa với sự phẳng lặng, đơn điệu mà vẫn luôn hàm chứa sự bất ngờ, vẫn không ngớt biến hóa. Theo con thuyền thả trôi, điểm nhìn của nhà văn liên tục di động và “di động” hơn nữa là cái nhìn của Nguyễn Tuân. Có vẻ như ông muốn học cách nhìn của “con hươu thơ ngộ”, “vểnh tai”, “nhìn không chớp mắt” những sự vật như hiện lên từ thế giới cổ tích, sau đó truyền sự bỡ ngỡ lại cho độc giả qua những từ dùng độc đáo, sáng tạo, kích thích rất mạnh giác quan và vốn ngôn ngữ của chúng ta: “thơ ngộ”, “đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “tiếng còi sương…”. Vật nào cảnh nào được cây đũa thần của nhà văn động đến đều cựa quậy, không chịp ép mình làm một tiêu bản dẹt. Có lúc, Nguyễn Tuân như vượt qua lề luật của phép diễn đạt thông thường để viết: “Đàn cá đầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”. Có thể nói câu văn kia đã được viết theo bút pháp của hội họa “lập thể” mà mục đích của nó là muốn cùng một lúc thấy được sự vật ở nhiều chiều. Trước một nét miêu tả rất cô đọng như thế, ta không chỉ thấy mà còn nghe – thấy cái lấp lánh ánh bạc của bụng cá và nghe tiếng quẫy nước rộn ràng vang ngân.

Nguyễn Tuân là người hết sức nặng tình với con sông đất nước. Trong khi thưởng ngoạn vẻ đẹp thơ mộng của Sông Đà, trong ông dậy lên bao mối liên tưởng về lịch sử, dậy lên cảm giác hàm ơn sâu xa đối với cổ nhân. Việc ông nhắc tới đời Lý, đời Trần, đời Lê và câu thơ của Tản Đà cho thấy rõ một thiên hướng bộc lộ cảm xúc rất đặc thù của người từng viết “Vang bóng một thời. Nhưng trước vẻ “hoang dại” của bờ sông Đà, nhà văn cũng có những suy nghĩ mang tính tích cực của người công dân mới, mong cuộc sống hiện đại tỏa chiếu ánh sáng lên cả chốn sơn cùng thuỷ tận. “Tiếng còi sương” xuất hiện ở đây ngân xa như một khát vọng, nó hài hòa với cảm hứng lịch sử, tạo cho đoạn văn một vẻ đẹp vừa cổ kính, vừa hiện đại. Đối với Nguyễn Tuân, những cái gì mang trong nó hơi thở ấm áp của cuộc đời đều để thương, để nhớ, để lưu luyến cho ông. Trong những câu cuối của đoạn văn này, ông đã trải lòng mình ra với dòng sông, hóa thân vào nó để lắng nghe và xúc động: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”. Qua mỗi dặm đường đất nước, nhà văn đều thấy cảnh vật và con người gắn quyện với nhau rất chặt chẽ.

Yêu sông Đà cũng chính là yêu Tổ quốc và yêu con người Việt Nam – những “đồng tác giả” của trăm vẻ đẹp từng làm đắm đuối lòng ta trên “trăm dáng sông xuôi” (ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm).

Chỉ mới qua một đoạn trích ngắn ngủi, ta chưa có điều kiện thấy hết những đặc sắc của văn Nguyễn Tuân. Nhưng chừng ấy tưởng cũng đã đủ để ta quý trọng một tài năng, một tấm lòng, một Nguyễn Tuân – con người suốt cuộc đời đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để sáng tạo nên những áng văn đẹp làm phong phú, giàu có thêm đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúng ta.

(Nguồn: Sưu tầm)