Tag Archives: văn học việt nam

Tổng quan văn học Việt Nam

 Tam coc Bich dong

Lịch sử văn học dân tộc ta cũng giống như một dòng sông…

PHẦN MỘT. “SÔNG CÓ KHÚC …”(Tục ngữ Việt Nam)

 1. Khúc thượng nguồn : văn học dân gian.

–  Đó là những sáng tác tập thể của nhân dân lao động, được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền qua lời kể (truyện), lời hát, lời ngâm (thơ). VHDG có các thể loại tiêu biểu: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ, câu đố, chèo …

–  VHDG là mạch nguồn trong trẻo, mát lành, sâu thẳm nhất, mạnh mẽ nhất, ngày đêm âm thầm, bền bỉ góp nước cho dòng sông văn học.

2. Khúc trung lưu : văn học viết.

–   Đó là các sáng tác của người trí thức, mang dấu ấn cá nhân tác giả và được ghi lại bằng chữ viết. Trong lịch sử văn học dân tộc, người Việt Nam chủ yếu dùng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ để sáng tác văn học. Văn học viết có các nhóm thể loại tiêu biểu: các thể loại tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí …), các thể loại trữ tình (thơ, hát nói, trường ca,…), các thể loại kịch (kịch nói, kịch thơ, kịch bản điện ảnh, sân khấu …).

–   Phân kì văn học viết: có thể chi làm 2 thời kì: Văn học trung đại và Văn học hiện đại

  2.1. Văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ X-XIX)

–  Bối cảnh lịch sử, văn hóa: Đất nước đã giành được quyền độc lập tự chủ nhưng vẫn thường xuyên phải đối diện với nguy cơ ngoại xâm từ phương bắc. Trong nước, tầng lớp phong kiến lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc (khi có ngoại xâm) nhưng vẫn bóc lột nhân dân lao động, tranh giành quyền bính, chém giết lẫn nhau. Văn học (rộng ra là văn hóa) Việt Nam thời kì này chịu nhiều ảnh hưởng của văn học (văn hóa) Trung Quốc (từ ngôn ngữ, thể loại cho đến nội dung, hình thức biểu đạt …)

–  Các bộ phận: Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm

–  Đặc điểm: Thể hiện chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân đạo.

–  Gương mặt tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du …

  2.2. Văn học hiện đại Việt Nam (thế kỉ XX đến nay)

–  Bối cảnh lịch sử, văn hóa: Thời kì của những biến động lịch sử to lớn: đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Cách mạng tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập nhưng chưa hòa bình, thống nhất, phải trải qua 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ để thống nhất non sông. Vượt qua hơn 10 năm thời kì bao cấp, đất nước tiến hành Đổi mới và bước đầu đạt được nhiều thành tựu. Văn học (văn hóa) Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phương Tây, bắt đầu gia nhập vào quỹ đạo chung của quá trình hiện đại hóa, hòa nhập cùng thế giới. Văn học chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ.

–  Các giai đoạn phát triển: 1900-1930 (giai đoạn giao thời), 1930-1945 (VHVN hiện đại trước CMT8), 1945-1975 (Văn học kháng chiến), 1975 – nay (văn học thời kì đổi mới)

–  Đặc điểm văn học: Vẫn là sự tiếp nối dòng mạch yêu nước và nhân đạo thời trung đại nhưng có thêm những nét mới: đi sâu khám phá con người cá nhân, đề cao tinh thần dân chủ.

3. Khúc hạ lưu: đang chờ các em viết tiếp.

 

PHẦN HAI: “HÃY TỰ HIỂU CHÍNH NGƯƠI”(Danh ngôn khắc trên đền thờ thần Apollo)

          Nhà văn M.Gorki từng nói: “Văn học là nhân học“. Quả vậy, tác phẩm văn học, dù là đồ sộ như những bộ sử thi Ấn Độ, Hi Lạp với hàng vạn câu thơ hay ngắn gọn súc tích như một bài thơ Hai-kư (Nhật Bản) chỉ với 17 âm tiết, dù là câu chuyện về thánh thần, tiên bụt, ma quỷ, đồ vật hay sinh vật, cũng đều lấy CON NGƯỜI làm trung tâm phản ánh. Con người là chủ thể sáng tạo nên tác phẩm và cũng chính là đối tượng khám phá của tác phẩm.

         Vậy bản chất con người là gì? K.Marx trả lời: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội“. Văn học Việt Nam thể hiện hình ảnh con người Việt Nam dưới 4 mối quan hệ cơ bản sau:

1. Con người trong quan hệ với thế giới tự nhiên

         Người Việt Nam vốn sống hài hòa, gắn bó và rất yêu thiên nhiên. Trong văn học dân gian, thiên nhiên vừa là đối tượng nhận thức, cải tạo, chinh phục vừa là một phần không thể thiếu tạo nên vẻ đẹp quê hương cũng như tình yêu đôi lứa. Trong văn học trung đại, thiên nhiên còn được xem là bạn tri âm tri kỉ, là chuẩn mực của vẻ đẹp, của cốt cách con người, là phương tiện để con người kín đáo gửi gắm tâm tình (tả cảnh ngụ tình).

2. Con người trong quan hệ với xã hội

         Người Việt ta vốn có truyền thống tương thân tương ái, yêu thương, đùm bọc, chở che đồng bào, đồng loại. Đó chính là cội nguồn sâu xa của chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm văn chương. Tư tưởng ấy được thể hiện trước hết ở niềm yêu thương, cảm thông, trân trọng và tin tưởng vào con người, vào phần tốt đẹp và sức mạnh của con người. Đồng thời với tình yêu là niềm căm phẫn, tố cáo những thế lực trà đạp, đày đọa con người và niềm ước mơ về một xã hội công bằng, nơi mọi người được phát triển toàn diện, được hạnh phúc.

3. Con người trong quan hệ với quốc gia, dân tộc

         Không một dân tộc nào trên thế giới phải thường xuyên chiến đấu chống giặc ngoại xâm như dân tộc ta. Chính vì vậy, từ rất sớm, ý thức về quốc gia, dân tộc của người Việt đã được hình thành và tinh thần yêu nước luôn luôn chảy trong huyết quản của bao nhiêu thế hệ. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt các tác phẩm văn chương.  Biểu hiện của tình yêu nước trong văn chương là tình yêu đối với quê hương, làng xóm; là ý thức về bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc; là lòng căm thù với giặc ngoại xâm; là ý chí quyết chiến, sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh … Chạm đến tình yêu nước là chạm vào một phần thiêng liêng nhất trong tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam.

4. Con người trong quan hệ với chính mình

         Tôi là ai? Tôi từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Những câu hỏi ấy không chỉ là độc quyền của triết học mà cũng là một trong những câu hỏi trung tâm của các tác phẩm văn chương. Nhưng hiểu người khác đã khó, hiểu mình còn bội phần khó hơn:

Sông sâu còn có kẻ dò

Có ai bẻ thước mà đo lòng người

Việc con người ý thức về bản thân mình phụ thuộc nhiều vào các học thuyết chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức cũng như những bối cảnh lịch sử cụ thể. Trong hoàn cảnh con người phải đối diện với hoàn cảnh đặc biệt như chống lại các hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt (thiên tai), chống ngoại xâm, nội loạn (nhân họa), con người thường đề cao ý thức xã hội, trách nhiệm công dân, sẵn sàng hi sinh cái tôi để phụng sự cộng đồng.

Trong những hoàn cảnh khác, ý thức về cái tôi cá nhân lại được đề cao. Văn học quan tâm, đề cao những quyền cơ bản của cá nhân: quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do … và tập trung khám phá, thể hiện cái tôi cá nhân với nhiều phương diện đa dạng, phong phú.

Advertisements

Tây Tiến (Quang Dũng)

391269_431392030235433_1397363105_n

 

Tây Tiến

 

“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy, con người ấy

Vẫn sống muôn đời với núi sông”

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

– Vị trí: Gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại.

– Sự nghiệp: Người nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc

– Phong cách: hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.

2. Tác phẩm

– Giới thiệu về đoàn quân Tây Tiến:

+ Thời gian thành lập: mùa xuân 1947

+ Nhiệm vụ và địa bàn hoạt động:

* Địa bàn hoạt động rộng: trải dài từ Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình tới Tây Thanh Hóa và sang cả vùng biên giới Việt Lào. Không chỉ rộng về phạm vi hoạt động, địa bàn chiến đấu của những người lính Tây Tiến là vùng núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, thơ mộng, mới lạ (trong mắt những chàng trai Hà Thành) vừa hoang vu, hiểm trở, đầy thử thách.

* Nhiệm vụ: Đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

+ Thành phần xuất thân: Phần đông là thanh niên, học sinh thủ đô.

+ Phẩm chất của lính Tây Tiến: Đó là những thanh niên trẻ trung, ngàng tàng, đầy nhiệt huyết và giàu lòng yêu nước, sẵn sàng đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, cầm súng chiến đấu, bảo vệ biên cương. Đồng thời, đó cũng là những chàng trai Hà Thành với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ và rất đỗi hào hoa.

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được sáng tác năm 1948, tại một ngôi làng nhỏ ven sông Đáy (Phù Lưu Chanh) thuộc tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Lúc này Quang Dũng đã xa đơn vị, xa đồng đội. Nhớ về Tây Tiến với những kỉ niệm xúc động, hào hùng, nhà thơ đã viết nên một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại – bài thơ Tây Tiến.

– Nhan đề tác phẩm: ban đầu nhà thơ đặt tên cho tác phẩm của mình là “Nhớ Tây Tiến” sau này in lại nhà thơ sửa lại thành “Tây Tiến”. Bớt đi một chữ, nhan đề được ngắn gọn, cô đọng hơn đồng thời mở ra những trường liên tưởng, cảm xúc mới mẻ cho người đọc: không chỉ nhớ mà còn thương, còn yêu, còn thủy chung gắn bó, còn xúc động tự hào, còn thề nguyền hẹn ước … Bao nhiêu là cảm xúc kết đọng trong một từ ngữ, một cái tên gắn liền với hình ảnh đoàn binh đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc.

– Bố cục: 4 đoạn

+ 14 câu đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

+ 8 câu tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương nơi núi rừng miền Tây

+ 8 câu tiếp: Bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến

+ 4 câu cuối: Lời ước hẹn thủy chung


II. PHÂN TÍCH

1. 14 câu thơ đầu: Kỉ niệm của người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân

– Hai câu thơ đầu: Dẫn dắt người đọc bước vào không gian của cảm xúc, của kỉ niệm và của nỗi nhớ “chơi vơi” không nói hết thành lời:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

+ Câu thơ đầu mang hình thức câu cảm thán, là một tiếng gọi trong tha thiết nhớ thương. Câu thơ nhiều thanh bằng, kết hợp với vần “ơi” (âm mở) tạo âm vang trầm buồn, da diết, mênh mang của cõi nhớ. Những cái tên(sông Mã, Tây Tiến) vang lên gần gũi, thân thương thông qua biện pháp nhân hóa.

+ Câu thơ thứ hai: phép điệp từ “nhớ” nhấn mạnh cảm xúc chủ đạo chi phối toàn bài thơ. Nỗi nhớ có đối tượng, có sắc thái. Từ láy “chơi vơi” diễn tả chính xác cảm giác của nhà thơ, sắc thái của nỗi nhớ: da diết, mênh mang, hụt hẫng, thẳm sâu. Nỗi nhớ vốn vô hình, vô ảnh nhưng lại được khắc họa bằng một từ láy tượng hình ấn tượng.

– 12 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây và người lính Tây Tiến

a. Kí ức về thiên nhiên miền Tây

* Sương miền Tây

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

+ Các địa danh Mường Lát, Sài Khao và còn nhiều cái tên đất, tên làng, tên sông, tên núi đã gợi lên sự hoang vu, xa ngái của vùng đất miền biên viễn vừa chứa ẩn nhiều thử thách hiểm nguy, vừa gọi mời khám phá.

+ Từ “lấp” cho thấy sương rất dày, đặc gợi cảm giác về sự lạnh lẽo. Như một hệ quả tất yếu của thiên nhiên, đoàn quân hiện ra trong màn sương lặng lẽ, mệt mỏi, dãi dầu.

+ Từ “hoa” có nhiều cách hiểu. Có thể là hoa hương nơi núi rừng Tây Bắc. Cũng có thể là cách nói ẩn dụ của ngọn đuốc trên đường hành quân. Nhưng dù theo nghĩa nào, người đọc đều cảm nhận được tâm hồn tài hoa, tư chất nghệ sĩ lãng mạn của những người lính Tây Tiến.

* Dốc núi miền Tây

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

+ Nhịp ngắt 4/3 kết hợp với phép điệp từ “dốc” làm hiện ra trước mắt người đọc trùng điệp những dốc núi. Câu thơ nhiều thanh trắc (5/7) gợi sự gập ghềnh, nhọc nhằn của đường đi. Hai từ láy gợi cảm “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” là cái ngước nhìn của người leo dốc, thu về cả cận cảnh và viễn cảnh để nhận ra đoạn đường phía trước hun hun đến không cùng (lấy sâu để tả cao).

+ Từ láy “heo hút” cùng phép đảo ngữ thể hiện cái vắng vẻ, cao chót vót và xa đến không cùng. Động từ “ngửi” được nhân hóa: ngọn súng như đang tò mò, thám hiểm bầu trời, trêu đùa với tạo hóa. Qua đó làm hiện lên hình ảnh của người lính trên nền thiên nhiên hùng vĩ: trẻ trung, ngang tàng, tếu táo, mạnh mẽ, kiên cường.

+ Điệp từ “ngàn” là sự định lượng mang tính ước lệ, thể hiện sự hùng vĩ của thiên nhiên dốc núi miền Tây đồng thời hứa hẹn những khó khăn, thử thách cho người lính. Nhịp thơ 4/3 bẻ gãy câu thơ làm đôi kết hợp với động từ thể hiện sự chuyển động ngược hướng “lên – xuống” đã diễn tả sự cheo leo, chênh vênh, sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của những dốc núi miền Tây.

* Mưa miền Tây

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

+ Câu thơ nhiều thanh bằng với những âm tiết mở diễn tả không gian mênh mông trải rộng trong màn mưa và cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản của người chiến sĩ sau những chặng đường hành quân vất vả. Phép ẩn dụ, liên tưởng độc đáo “mưa xa khơi” diễn tả không gian bồng bềnh trong màn mưa rừng khiến cả thung lũng trở thành đại dương mênh mông còn những ngôi nhà như những con thuyền nhỏ bồng bềnh trôi trong đại dương ấy.

* Núi rừng miền Tây

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

+ Phép nhân hóa (“gầm thét”, “trêu người”) cho thấy sự dữ dội, hoang sơ, bí hiểm đầy đe dọa.

+ Điệp từ “chiều chiều”, “đêm đêm” cho thấy sự vĩnh hằng, trường cửu.

+ Sự đối lập về âm thanh và hình ảnh: cái gầm vang của thác lũ với cái im lặng đến nghẹt thở của khoảnh khắc chúa sơn lâm rình mồi, cái oai linh nơi vòm cao thăm thẳm hay bước đi nặng nề của mãnh thú nơi vòm thấp tối đều là những mối đe dọa đến sự sống nhỏ nhoi, yếu đuối của con người.

=> Vừa thấy được sự hiểm nguy, vừa cảm phục lòng dũng cảm của những người lính Tây Tiến.

 

b. Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên những chặng đường hành quân.

– Kí ức về người lính trên đường hành quân gian khổ:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

+ Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả, nhọc nhằn, gian khổ mà người lính phải chịu đựng. “Không bước nữa”, “bỏ quên đời” có thể được hiểu theo nhiều cách: một khoảnh khắc nghỉ ngơi, nỗi mệt mỏi đến kiệt sức không thể tiếp tục hay thậm chí là cái chết. Hiểu theo nghĩa nào thì người đọc cũng vẫn nhận ra nỗi vất vả gian truân của người lính trên những chặng đường hành quân chiến đấu.

+ Các nói giảm, nói tranh (không bước nữa, bỏ quên đời), cách nói phủ định cho thấy sự chủ động của người lính, kể cả khi mệt mỏi đến tận cùng, kể cả khi đối diện với cái chết thể hiện sự ngang tàng, ngạo nghễ, chấp nhận cái chết một cách nhẹ nhõm, thanh thản. Nhà thơ không né tránh những mất mát, hi sinh (vì nó là một phần tất yếu của chiến tranh).

+ Ngòi bút miêu tả của nhà thơ lùi xa, ghi lại những nét biểu hiện bên ngoài của người chiến sĩ. Nhưng người đọc nhận ra, bên trong cái vẻ bất cần, mỏi mệt, kiệt sức kia là cả một ý chí, là sự dũng cảm, là tinh thần chấp nhận hi sinh, là tấm lòng yêu quê hương đất nước.

– Kỉ niệm về một lần dừng chân trên đường hành quân.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

+ Sự phối hợp của nhiều giác quan (thị giác, xúc giác, khứu giác) cho thấy sự ấm áp, thơm thảo của tình quân dân.

+ Một tập hợp từ độc đáo: “mùa em”. “Mùa” là từ chỉ đơn vị đo thời gian, cũng chỉ sự sinh sôi, dạt dào sức sống, chỉ sự tập trung, sự hái gặt thành quả sau quá trình nỗ lực. “Em” là cách xưng hô đầy tính tứ. “Mùa em” có thể là mùa lúa chín được gặp em, cũng có thể là mùa của niềm thương nỗi nhớ hướng về những tấm lòng thơm thảo, những dáng hình thân thương, những kí ức đã trở thành dấu ấn in sâu trong tim người lính:

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương

                                   (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)


2. Tám câu thơ tiếp: Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ và buổi chiều sương lạnh nơi núi rừng miền Tây.

a. Kỉ niệm về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân

– Câu 1: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

+ Từ “bừng” diễn tả ánh sáng xuất hiện một cách bất ngờ, với cường độ mạnh xua tan cái tăm tối, lạnh lẽo, cái âm u hoang vắng của núi rừng miền Tây. Đặt giữa câu thơ, từ “bừng” còn diễn tả sự ngạc nhiên, niềm vui sướng, hào hứng của những người lính trẻ trước đêm liên hoan.

+ “Đuốc hoa” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Đó có thể là hình ảnh tả thực những ngọn đuốc bập bùng cháy trong đêm như những bông hoa lửa xòe nở giữa đêm đen nơi núi rừng Tây Bắc. Không những thế, nó còn gợi lên trong người đọc sự liên tưởng thú vị đến “đuốc hoa” (hoa chúc) – một hình ảnh gắn liền với đêm tân hôn hạnh phúc của những đôi uyên ương. (thành ngữ Hán Việt có câu: “Động phòng hoa chúc” còn dân ca Quan họ cũng có lời hát: “Còn duyên ngồi gốc cây thông – Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa – Có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà – Cho thầy mẹ biết để đuốc hoa định ngày”). Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn nhận ra nét tài hoa, tình tứ, lãng mạn và cả những mong ước thầm kín rất người trong tâm hồn những chàng trai trẻ Hà Thành.

+ Chính cái nhìn lãng mạn, hào hoa, đa tình, đa tài ấy đã biến không gian vốn khô cứng, chỉ gợi lên sự trật tự, kỉ luật – doanh trại, nay bỗng ngập tràn ánh sáng, sự ấm áp, niềm vui say náo nức của những chàng trai, cô gái trẻ trung, đầy sức sống. Trong phút chốc, doanh trại đã trở thành sân khấu cho đêm hội ánh sáng lung linh, huyền ảo giữa núi rừng.

– Câu 2: Kìa em xiêm áo tự bao giờ

+ Từ “kìa” (kết hợp với cụm từ “tự bao giờ”) diễn tả sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trong ánh mắt nhìn người lính trẻ trước sự xuất hiện của những cô gái miền sơn cước.

+ Hình ảnh những sơn nữ không được miêu tả kĩ lưỡng ở chân dung, ở nhan sắc nhưng qua ánh mắt đa tình, cái nhìn tinh tế, lãng mạn của người lính Tây Tiến, người đọc thấy hiện lên bóng hình những cô gái xinh đẹp, tài hoa, duyên dáng – đẹp một vẻ đẹp rất riêng của mảnh đất phương xa, xứ lạ. Vẻ đẹp ấy đã cuốn những chàng trai trẻ Hà Thành đi từ ngạc nhiên, thích thú đến say mê, đắm đuối trong một đêm hội của nhạc, của thơ, của mơ.

+ Ấn tượng đầu tiên về người sơn nữ miền Tây là những bộ trang phục. Từ “xiêm áo” (chứ không phải “váy áo, quần áo”) là từ cổ, mang sắc thái trang trọng, thể hiện cái nhìn ngạc nhiên của người lính khi bắt gặp những bộ trang phục cầu kì, lộng lẫy và hết sức mới lạ của những cô gái đồng bào dân tộc ít người.

– Câu 3: Khèn lên man điệu nàng e ấp

+ Không chỉ là đêm hội của ánh sáng, đó còn là đêm hội rộn rã âm thanh và nhịp nhàng điệu múa. “Khèn” một nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong tiếng khèn là cả hồn vía của núi rừng, cả tâm tư, tình cảm của con người nơi đây, tiếng khèn cất lên làm sống dậy cả một không gian văn hóa đậm màu sắc bản địa. “Man điệu” (điệu nhạc, điệu múa của các dân tộc thiểu số) – những vũ điệu mới mẻ, cuốn hút đầy mãnh lực trước con mắt ngạc nhiên, ngỡ ngàng và say mê của những chàng lính trẻ.

+ Sự say mê ấy được thể hiện qua sự chuyển đổi đại từ nhân xưng: “em” – “nàng” đầy tình tứ. Cái dáng điệu “e ấp” càng gợi lên sự duyên dáng, mềm mại, kín đáo, ý nhị mà tình tứ của người con gái.

– Câu 4: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

+ Tâm hồn lâng lâng, bay bổng theo tiếng khèn dìu dặt, ánh mắt đã đầy say mê dõi theo từng nhịp múa để rồi thăng hoa trong cảm xúc trào dâng của nhạc, của thơ. Câu thơ cuối có rất nhiều thanh bằng diễn tả cảm giác say mê, bay bổng. Tiếng nhạc đã nâng cánh để tâm hồn người lính bay đến kinh đô của cõi thơ, cõi mơ, cõi mộng. Mở đầu câu thơ là “nhạc”, khép lại là “thơ”, và giữa hai “đường biên xúc cảm” ấy là hình ảnh người lính đang say sưa ngây ngất đắm chìm trong bữa tiệc thịnh soạn của tâm hồn với những đặc sản của phương xa xứ lạ.

=> Đoạn thơ 4 câu tái hiện lại một buổi liên hoan văn nghệ ấm tính quân dân, mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc miền núi Tây Bắc đã thể hiện vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, nét đa tình, trẻ trung của người lính Tây Tiến. Với những khoảnh khắc ấy, người lính không thoát li thực tại, trốn chạy khỏi thực tế mà ngược lại, trở thành niềm động viên, thành sự mềm mại, bình yên cần thiết để người lính lấy lại sự cân bằng sau những gian khổ, hi sinh, để tiếp tục cầm súng chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc.

 

b. Nỗi nhớ về thiên nhiên, con người miền Tây trong một buổi chiều sương lạnh

– Câu 1. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Câu thơ có nhân vật (người đi), có không gian (Châu Mộc), có thời gian (chiều sương ấy) nhưng tất cả đều mờ ảo trong cảm giác xa xôi, u buồn, tiếc nhớ.

Hai câu thơ tiếp nối là hai câu hỏi nêu ra như niềm băn khoăn cần một lời xác quyết, cũng là một cách để gợi mở kỉ niệm.

– Câu 2. Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Hồn lau: Những vạt lau trắng xám là một hình ảnh rất đặc trưng cho núi rừng miền Tây (Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son – Tố Hữu). Nhưng ở đây, lau được nhân hóa, ẩn dụ – “hồn lau” (hay chính là hồn của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc trong buổi chiều hoang lạnh đã kết tụ lại nơi những bông lau phơ phất), cũng mang tâm hồn, cũng biết nhớ biết thương.

+ Nẻo bến bờ: không gian xa xôi, heo hút, vắng vẻ, cô tịch.

+ Tác giả hỏi “có thấy”: để nhìn thấy những hình dáng vạt lau, người ta chỉ cần sự quan sát của thị giác, nhưng để cảm được “hồn lau”, người ta phải sống, phải đi, phải thuộc mảnh đất này nhiều lắm, và cũng phải có cả sự lãng mạn, sự tinh tế trong tâm hồn mới có thể nhận ra điều đó.

– Câu 3 – 4. Có nhớ dáng người trên độc mộc – Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ Giữa thiên nhiên bàng bạc màu trắng của sương, của lau, màu của kí ức, của sự lãng quên, của cái hoang lạnh, ảo mờ một buổi chiều núi rừng miền Tây, nổi bật lên hình ảnh của người sơn nữ miền Tây. Không tả chân dung, nhan sắc cũng không tả trang phục, hiện lên sắc nét trong kí ức người lính là “dáng người” của cô gái.

+ “Độc mộc”: loại thuyền nhỏ làm từ thân một cây gỗ, phương tiện di chuyển chủ yếu trên sông, trên suối, vượt thác băng rừng của người dân miền núi. Để điều khiển con thuyền ấy, không chỉ đòi hỏi sự khỏe mạnh, bản lĩnh, kinh nghiệm mà còn cần cả sự khéo léo, uyển chuyển. Hình ảnh cô gái chèo thuyền độc mộc băng thác lũ mưa rừng gợi vẻ đẹp rắn giỏi, kiên cường, mạnh mẽ khỏe khoắn và cả sự tài khéo của con người miền Tây – những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên.

+ “Hoa” có thể hiểu theo nghĩa thực (hoa rừng), cũng có thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ (người con gái xinh đẹp, duyên dáng tựa bông hoa rừng). Từ láy “đong đưa” (chứ không phải “đung đưa”) cho thấy nét duyên dáng, uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại đầy nữ tính. Sự dữ dội, bạo liệt, hiểm nguy của thiên nhiên, của thác lũ mưa ngàn không đe dọa, nhấn chìm, vùi dập con người, mà ngược lại trở thành phông nền, làm tôn thêm cho bản lĩnh và vẻ đẹp của con người. Phải đặt trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội ấy vẻ đẹp của con người miền Tây mới thực sự nổi bật: vẻ đẹp khỏe khoắn, mềm mại của những con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên, cuộc đời (khác hẳn với hình ảnh bất lực trước số phận của con người trung đại trong Truyện Kiều “Hoa trôi man mác biết là về đâu”).

+ Qua bức tranh thủy mặc về đất và người miền Tây, người đọc còn nhận ra sự tài hoa, tinh tế, nét lãng mạn, đa tình của những người lính Tây Tiến, những đứa con từ giã Hà Thành hoa lệ để ra nơi biên viễn chiến đấu bảo vệ quê hương, khám phá những vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam.

3. Bức tượng đài bi tráng, bất tử về người lính Tây Tiến

a. Chân dung người chiến binh Tây Tiến

– Bức chân dung ngoại hình của lính Tây Tiến. Hai câu thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

+ Nghệ thuật đảo ngữ nhằm nhấn mạnh, khắc sâu ấn tượng về cái tên Tây Tiến, cái tên, chỉ riêng nó thôi, đã gợi lại trong lòng nhà thơ không biết bao nhiêu kỉ niệm về một quãng đời không thể nào quên. Không những thế, vượt qua gió bụi thời gian, Tây Tiến đã đi vào lịch sử như một đoàn quân có một không hai, là chủ nhân và chứng nhân của một thời đại hào hùng mà gian khó của dân tộc.

+ “Không mọc tóc”: cách nói rất ấn tượng, thật đến trần trụi, đến khốc liệt. Không mọc tóc có thể là do lính Tây Tiến tự cắt tóc do yêu cầu của quân ngũ, nhưng đúng hơn, đó là cách nói về cả một đoàn quân tóc bị rụng dần đi do những khắc nghiệt của nơi núi rừng lam chướng miền Tây, của những thiếu thốn, gian khổ trong những ngày đầu kháng chiến. Nhưng hình ảnh cả đoàn quân “không mọc tóc” không gợi lên sự yếu đuối, tàn tạ mà ngược lại, qua cách đặt câu ở thể chủ động, người đọc nhận ra hình ảnh đoàn quân kiêu hùng, ngang tàng, bất chấp mọi hiểm nguy, gian khó. Những cái đầu “bướng bỉnh” ấy vẫn kiêu hãnh ngẩng cao, vẫn nhìn thẳng về phía trước.

+ “Quân xanh màu lá” cũng là một sự miêu tả hiện thực. Màu xanh ấy có thể là xanh áo, xanh quần, xanh cây xanh lá ngụy trang, xanh rừng xanh núi miền Tây. Nhưng đó cũng có thể là hình ảnh xót xa về những người lính da xanh nhợt vì đói ăn, vì khát uống, vì bệnh tật (nhất là sốt rét rừng), vì thiếu thốn trăm bề.

+ “Dữ oai hùm”: cách nói ẩn dụ độc đáo. Bên trong cái ngoại hình tưởng như tiều tụy, nhợt nhạt kia là cả một khí phách, một bản lĩnh kiên cường, một sự oai nghiêm, dữ dằn đầy sức mạnh của vị chúa sơn lâm.

– Vẻ đẹp tâm hồn lính Tây Tiến

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Động từ “trừng” diễn tả một cái nhìn căng, thẳng, đầy nung nấu, như chứa đựng biết bao xúc cảm, hoài bão, cái nhìn hướng ra nơi “biên giới”, hướng về kẻ thù.

+ “Mộng biên giới”: giấc mộng giết giặc lập công của người chiến binh. Ta bắt gặp trong giấc mộng chiến binh ấy cái “nợ công danh”, cái chí tang bồng hồ thỉ của những trang hào kiệt, của những đấng trượng phu thuở nào.

+ Mộng gửi về nơi biên cương nhưng mơ thì lại hướng về Hà Nội – thành phố quê hương thân yêu. Hà Nội gắn liền với hình ảnh của những kiều nữ đất Hà thành, người “em gái nhỏ hậu phương” vẫn thường đi về trong nỗi nhớ niềm thương, trong giấc mơ của những người lính trẻ. Những thiếu nữ lên hương (thơm), lên sắc (dáng kiều) trong thơ Quang Dũng đã thể hiện tâm hồn lãng mạn, đa tình cũng như những khát khao thầm kín về một hạnh phúc lứa đôi, về một cuộc sống sum vầy của những người lính trẻ.

b. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

– Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thể hiện không khí trang nghiêm, lòng thành kính của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống. Chính hệ thống từ ngữ ấy kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi (biên cương, chiến trường, áo bào, khúc độc hành) cũng tạo sắc thái cổ kính, gợi liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt của những anh hùng, dũng tướng sẵn sàng chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây” đầy bi tráng của văn học trung đại.

– Câu thơ đầu: rất nhiều từ Hán Việt nhưng sức nặng của cả câu lại dồn vào một từ thuần Việt: “mồ”. Mồ cũng là mộ, nhưng tại sao tác giả lại dùng cách nói thuần Việt? Là bởi những nấm mộ của các anh không hoàn toàn là mộ theo đúng nghĩa, chỉ là những nấm đất được đào vội, chôn mau ngay trên đường hành quân để đoàn quân tiếp tục lên đường. Đặt trong không gian nơi biên cương, miền viễn xứ, những nấm mồ ấy gợi lên bao nỗi xót xa.

– Câu 2: nghệ thuật đảo ngữ (chiến trường đi) nhấn mạnh đích đến. Chiến trường là đích duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệm của cả một (hơn một) thế hệ. Với họ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến chống quân thù”. Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát, sự quyết tâm, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng hi sinh cả “đời xanh” tuổi trẻ, cả tính mạng của mình cho Tổ quốc. Nhà thơ nói “chẳng tiếc”, nhưng tuổi trẻ đẹp thế, cuộc đời tươi thế, có thật là “chẳng tiếc” không? Nhưng ai cũng tiếc thì còn chi đất nước?

– Câu 3: “Áo bào thay chiếu” một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh nhưng cái thiếu thốn về vật chất lại được khỏa lấp bằng sự hiên ngang, can trường của người lính. Trong mắt họ, những tấm chiếu manh kia chính là những tấm chiến bào của người dũng tướng cũng họ vào cõi vĩnh hằng. Cách nói “về đất” không chỉ là cách nói giảm, nói tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng, xâu xa. Chết không phải là ra đi vào cõi hư vô mà là trở về, trở về với Đất mẹ thân yêu. Đất mẹ cũng mở lòng đón những đứa con ưu tú của mình. Các anh đã ngã xuống, đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất tên làng đều có hình bóng các anh. (Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất – Có một phần xương thịt của em tôi)

– Câu 4: Sông Mã mở đầu cho cuộc hành trình trở về Tây Tiến trong kí ức của nhà thơ, cũng là chứng nhân, là thân nhân đưa tiễn những đứa con của đoàn quân ấy về lòng đất mẹ. Dòng sông không mênh mang, chơi vơi trong tiếng gọi tha thiết nhớ thương mà giờ đây nó gầm lên trong cơn giận dữ kìm nén, trong đau thương uất nghẹn. Không hát, không thét, không khóc mà “gầm lên khúc độc hành”. Đau thương đã biến thành sức mạnh, thành lòng căm thù, thành sự quyết tâm, thành ý chí sắt đá. Dòng sông khi phải tiễn biệt những người lính Tây Tiến, bỗng trở nên cô đơn trong cuộc hành trình về biển lớn. “Độc hành”, đó là cuộc hành trình của dòng sông, của người đã khuất hay của người đang sống. Ta không thể trả lời xác quyết, song điều chắc chắn là sự ra đi của các anh là những mất mát, thiếu hụt không gì có thể bù đắp được, để lại sự tiếc thương, xót xa, cả sự hụt hẫng cho những người đồng đội.

4. Lời ước hẹn thủy chung, son sắt

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

 

– Khổ cuối như khúc vĩ thanh, khép lại bài thơ, để lại trong lòng người đọc biết bao dư ba, xúc động. Đó là lời ước hẹn thủy chung, son sắt với mảnh đất, với con người miền Tây, với những người đồng đội từng chia sẻ thiếu thốn, gian nguy, từng vào sinh ra tử.

– Hàng loạt các từ ngữ “không hẹn ước”, “thăm thẳm”, “chia phôi”, “chẳng về xuôi” cho thấy một tâm thế dứt khoát, vững vàng của người lính. Từ giã gia đình đi ra nơi biên cương, miền chiến địa, họ coi đó là “cuộc chia phôi” không hẹn ước.

– “Mùa xuân ấy” có thể là từ ngữ gợi nhắc thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947) cũng gợi liên tưởng đến những con người mang tuổi xuân, chẳng tiếc đời xanh của mình để góp phần làm nên mùa xuân lớn cho Tổ quốc. Họ đã để lại nơi những cánh rừng, dòng sông, ngọn núi, bản làng nơi biên cương Tổ quốc một phần tuổi trẻ, một quãng đời oanh liệt, hào hùng với những kỉ niệm không bao giờ có thể nguôi quên. Một phần tâm hồn họ, mãi mãi vấn vương cùng mảnh đất chất chứa đầy kỉ niệm ấy. Và chúng ta, mỗi khi nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sông tên núi của mảnh đất miền biên viễn ấy, ta vẫn tự nhắc mình, có những con người đã sống, chiến đấu, hi sinh để bảo tồn hình hài Tổ quốc.

 

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)

Song Da

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Câu hỏi ôn tập trọng tâm thi Tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng

Câu 1. Trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. 

Câu 2. Nêu hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo và những đặc sắc nghệ thuật của tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 3. Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 4. Phân tích hình tượng ông đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 5. So sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù và nhân vật ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Câu 6. Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)
                           (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao,
                                                               Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 157)
   (…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)
                                                 (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường,
                                                         Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)

Bài văn tham khảo

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

Bài 03. Bình giảng đoạn văn sau đây trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân:

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịch không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Phọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng có sương, chăm chăm nhìn tôi lừ đừ trôi trên một mũi đỏ. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Bài 04. Phân tích, cảm nhận về tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 05. Phân tích hình tượng ông lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà

Bài 01. Phân tích, bình giảng tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

BÀI LÀM

Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc). Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân.

Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình.

Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy thác (thủy) so sánh với lửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại.

Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh. Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình (…) ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ…

Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người.

Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà… Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống.

Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ  truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc.

Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.

(Thầy Nguyễn Quang Trung)

Bài 03. Bình giảng đoạn văn trong tùy bút Người lái đò sông Đà

Bài 03. Bình giảng đoạn văn trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

BÀI LÀM

Người lái đò Sông Đà là một bút kí rất đặc sắc của Nguyễn Tuân rút từ tập Sông Đà (1960). Hình ảnh con sông Đà với hai đặc tính nổi bật là “hung bạo và trữ tình” đã được khắc hoạ thật đậm nét. Để có thể khách thể hóa được đối tượng và “đóng đinh” nó vào trí nhớ độc giả, Nguyễn Tuân đã tung ra nhiều “độc chiêu” ngôn ngữ tưởng chi mình không mới có. Khi miêu tả những con thác vô cùng “độc dữ, nham hiểm”, câu văn của ông mang nhịp điệu dồn dập, kích thích. Nhưng khi ca ngợi “con sông Đà gợi cảm”, câu văn lại thư duỗi hết sức êm ả nghe như một tiếng hát ngân nga. Văn Nguyễn Tuân gồm chứa cả hai cực đó là cực thứ hai – cực trữ tình mềm mại và thấm đượm một thứ “mĩ học hoài cựu” độc đáo được thể hiện rất rõ trong đoạn văn từ câu “Thuyền trôi trên sông” đến câu… “khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Nội dung của đoạn văn là nói về vẻ thơ mộng của Sông Đà ở quãng trung lưu. Thác ghềnh lúc này chỉ còn lại trong nỗi nhớ. Thuyền được trôi êm và câu văn mở đầu vì thế cũng trở nên lâng lâng, mơ màng, không vướng víu với một thanh trắc nào: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”. Cái ý “lặng lờ” được nhắc đi nhắc lại mấy lần theo một kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ: “Cảnh ven sông ở đây lặng lờ, hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ như thế là thôi”, nghĩa là không thể lặng lờ hơn được nữa! Thiên nhiên thật hài hòa và mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, dành riêng cho con mắt nhìn “xanh non” của tác giả những hình ảnh kì thú: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Cảnh đã làm cho vị tình nhân của non nước Đà giang hết sức xúc động. Ông thấy cần phải nói thêm nữa để diễn tả cho cùng kiệt đặc tính của đối tượng: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Những so sánh lạ lẫm, chính xác mà cũng thật Nguyễn Tuân! Nhà văn đã đi ngược thói quen, đem giải thích một đặc tính vốn đã khá trừu tượng bằng những khái niệm trừu tượng hơn nữa, khiến cho cảm giác trực tiếp bỗng mở ra những liên tưởng trùng trùng, bát ngát. Đi từ “hoang dại”, “hồn nhiên” là cái còn có thể cảm nhận được, đến “tiền sử” và “nỗi niềm cổ tích ngày xưa”, câu văn đã cập bờ siêu cảm giác, đòi hỏi người đọc phải tiếp nhận nó bằng siêu giác quan chứ không phải bằng giác quan bình thường. Trong câu tiếp theo: “Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên

Bái – Lai Châu”, một mặt nhà văn bộc lộ thèm ước muốn có tiếng còi kéo mình ra khỏi mạng lưới vô hình mà quấn chặt của giấc mơ xưa, mặt khác tạo nên một cái cớ tuyệt diệu để biến cả một đoạn văn thành một bài thơ siêu thực mà trong đó giữa người với cảnh có sự tương thông rất đỗi huyền nhiệm và cái hư phút chốc biến thành cái thực: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ đừ trôi trên một mũi đỏ. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”

Người mơ cảnh cũng mơ, và cái thời điểm “ông khách sông Đà” bỗng nghe ra tiếng chú hươu gọi hỏi chính là đỉnh điểm của giấc mơ đó. Nhà văn đã khéo tạo được một giấc mơ ngay giữa ban ngày để rồi sau đó như sực tỉnh với tiếng động của “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Phút sực tỉnh cũng là phút nhà văn hiến cho độc giả một hình ảnh cực kỳ sống động mà ai được một lần thấy trong đời hẳn phải nhớ mãi. Bút pháp mượn cái động để tả cái tĩnh đã được vận dụng ở đây hết sức đắc địa. Cảnh tĩnh lặng đến mức chỉ tiếng cá quẫy cũng đủ khiến ta phải giật mình. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cái tĩnh không đồng nghĩa với sự phẳng lặng, đơn điệu mà vẫn luôn hàm chứa sự bất ngờ, vẫn không ngớt biến hóa. Theo con thuyền thả trôi, điểm nhìn của nhà văn liên tục di động và “di động” hơn nữa là cái nhìn của Nguyễn Tuân. Có vẻ như ông muốn học cách nhìn của “con hươu thơ ngộ”, “vểnh tai”, “nhìn không chớp mắt” những sự vật như hiện lên từ thế giới cổ tích, sau đó truyền sự bỡ ngỡ lại cho độc giả qua những từ dùng độc đáo, sáng tạo, kích thích rất mạnh giác quan và vốn ngôn ngữ của chúng ta: “thơ ngộ”, “đầu nhung”, “áng cỏ sương”, “tiếng còi sương…”. Vật nào cảnh nào được cây đũa thần của nhà văn động đến đều cựa quậy, không chịp ép mình làm một tiêu bản dẹt. Có lúc, Nguyễn Tuân như vượt qua lề luật của phép diễn đạt thông thường để viết: “Đàn cá đầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”. Có thể nói câu văn kia đã được viết theo bút pháp của hội họa “lập thể” mà mục đích của nó là muốn cùng một lúc thấy được sự vật ở nhiều chiều. Trước một nét miêu tả rất cô đọng như thế, ta không chỉ thấy mà còn nghe – thấy cái lấp lánh ánh bạc của bụng cá và nghe tiếng quẫy nước rộn ràng vang ngân.

Nguyễn Tuân là người hết sức nặng tình với con sông đất nước. Trong khi thưởng ngoạn vẻ đẹp thơ mộng của Sông Đà, trong ông dậy lên bao mối liên tưởng về lịch sử, dậy lên cảm giác hàm ơn sâu xa đối với cổ nhân. Việc ông nhắc tới đời Lý, đời Trần, đời Lê và câu thơ của Tản Đà cho thấy rõ một thiên hướng bộc lộ cảm xúc rất đặc thù của người từng viết “Vang bóng một thời. Nhưng trước vẻ “hoang dại” của bờ sông Đà, nhà văn cũng có những suy nghĩ mang tính tích cực của người công dân mới, mong cuộc sống hiện đại tỏa chiếu ánh sáng lên cả chốn sơn cùng thuỷ tận. “Tiếng còi sương” xuất hiện ở đây ngân xa như một khát vọng, nó hài hòa với cảm hứng lịch sử, tạo cho đoạn văn một vẻ đẹp vừa cổ kính, vừa hiện đại. Đối với Nguyễn Tuân, những cái gì mang trong nó hơi thở ấm áp của cuộc đời đều để thương, để nhớ, để lưu luyến cho ông. Trong những câu cuối của đoạn văn này, ông đã trải lòng mình ra với dòng sông, hóa thân vào nó để lắng nghe và xúc động: “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”. Qua mỗi dặm đường đất nước, nhà văn đều thấy cảnh vật và con người gắn quyện với nhau rất chặt chẽ.

Yêu sông Đà cũng chính là yêu Tổ quốc và yêu con người Việt Nam – những “đồng tác giả” của trăm vẻ đẹp từng làm đắm đuối lòng ta trên “trăm dáng sông xuôi” (ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm).

Chỉ mới qua một đoạn trích ngắn ngủi, ta chưa có điều kiện thấy hết những đặc sắc của văn Nguyễn Tuân. Nhưng chừng ấy tưởng cũng đã đủ để ta quý trọng một tài năng, một tấm lòng, một Nguyễn Tuân – con người suốt cuộc đời đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để sáng tạo nên những áng văn đẹp làm phong phú, giàu có thêm đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúng ta.

(Nguồn: Sưu tầm)