Tag Archives: văn học

Hướng dẫn làm dạng câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH

Suong khoi mo nhan anh

HƯỚNG DẪN LÀM DẠNG CÂU HỎI 2 ĐIỂM 

Dạng đề: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm

Phi lộ: Như đã trình bày trong bài giới thiệu khái quát về cách làm câu hỏi 2 điểm trong đề thi ĐH-CĐ, thường có 4 dạng hay xuất hiện. Ở đây chỉ tập trung hướng dẫn làm dạng phổ biến nhất (trong khoảng 3 năm trở lại đây), gây nhiều khó khăn nhất cho các em học sinh: Dạng 1: Phân tích ý nghĩa một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm.

Trong đáp án của câu hỏi này thường đòi hỏi người viết trình bày được 2 nội dung cơ bản:

– Tái hiện chi tiết

– Ý nghĩa của chi tiết:

+ Ý nghĩa về nội dung

+ Ý nghĩa về nghệ thuật

Trong điều kiện thời gian có hạn (thực ra là sự lười nhác của thầy), thầy chỉ trình bày ngắn gọn phần Ý nghĩa của chi tiết, phần Tái hiện các em có thể xem lại trong Sách giáo khoa. Thầy sẽ tiếp tục cập nhật phần phân tích ý nghĩa của các chi tiết ở các tác phẩm khác.

VỢ CHỒNG A PHỦ

1. Ý nghĩa cảnh xử kiện trong vợ chồng a phủ
– Thể hiện sự bất công, tàn bạo của bọn cường hào dưới xã hội phong kiến miền núi. Vụ xử kiện như một cơ hội để chúng kiếm chác, bóp nặn những người dân nghèo vô tội, thấp cổ bé họng.
– Tình cảnh đau khổ, tủi nhục của những người dân lương thiện dưới ách áp bức của tầng lớp thống trị.
=> Giá trị hiện thực của tác phẩm

2. Ý nghĩa chi tết cảnh A Sử trói Mỵ
– Thói gia trưởng, sự tàn nhẫn, độc ác của bọn thống trị. Chúng trói thể xác Mị bằng một thúng sợi đay và trói cả tâm hồn, sức sống, khát vọng tự do, yêu đương qua hình ảnh mái tóc dài bị quấn chặt vào cột. Sau khi trói Mị, A Sử tắt đèn, đóng cửa, tiếp tục muốn giam cầm cô trong tăm tối của kiếp ngựa trâu.
– Tình trạng đau khổ, bế tắc, tủi cực của người phụ nữ khao khát sống, khao khát yêu thương nhưng mỗi lúc định vùng lên lại bị trà đạp, bị vùi dập tàn nhẫn.
=> Giá trị hiện thực (tố cáo sự tàn ác) và giá trị nhân đạo (xót thương, cảm thông cho số phận bất hạnh của con người)

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

3. Ý nghĩa chi tiết Huấn Cao dỗ gông
– Thể hiện bản lĩnh cứng cỏi của một đại trượng phu, tuy đã sa cơ nhưng không chịu cúi đầu trước bạo quyền.
– Thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi sáng tạo một chi tiết thật độc đáo để khắc họa tính cách nhân vật.

4. Ý nghĩa chi tiết viên quản ngục so sánh Huấn Cao với “1 ngôi sao hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời ko định’
– Khẳng định và ngợi ca nhân phẩm, tài năng, khí phách của Huấn Cao, tấm lòng ấy, sự nghiệp ấy sáng tựa sao trời.
– Thể hiện sự tiếc thương đối với con người tài hoa khí phách sắp phải từ giã cõi đời.
– Qua đó thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc lựa chọn chi tiết đồng thời kín đáo thể hiện niềm kính ngưỡng của nhà văn với những con người mà nhân cách, tài năng đều ở vào hàng xuất chúng, kín đáo thể hiện lòng yêu nước.

CHÍ PHÈO

5. Ý nghĩa tiếng chửi chí phèo
– Thể hiện tâm trạng bi phẫn đến cùng cực của Chí Phèo khi bị xã hội tuyệt giao, không coi là một con người.
– Tiếng chửi là lời kết án toàn xã hội, cái xã hội vô nhân đã sinh ra hiện tượng Chí Phèo
– Thể hiện khát vọng được giao tiếp, được trở lại làm người của Chí Phèo
– Thể hiện tài năng nghệ thuật của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ trần thuật nửa trực tiếp, trong cách miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật.

6. Ý nghĩa hành động của viên ngục quan: “ngục quan cảm động,vái người tù 1 vái,chắp tay nói 1 câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
– Thể hiện sự xúc động, niềm kính ngưỡng của quản ngục với Huấn Cao.
– Cái cúi đầu bái lĩnh của quản ngục phải hiểu là cái cúi đầu trước vẻ đẹp của tài năng, khí phách và thiên lương. Đó là sự toàn thắng của cái thiện trước cái ác, cái đẹp trước cái xấu.
– Hành động ấy tôn vinh cả hai người: người vái lạy và người được vái lạy.

7. Ý nghĩa chi tiết rạch mặt ăn vạ của chí phèo ở nhà bá kiến
– Đánh dấu sự thay đổi trong tính cách Chí: từ một người nông dân hiền lành lương thiện thành kẻ lưu manh.
– Khẳng định bi kịch của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng, bị lưu manh hóa, phải bán cả nhân hình, nhân tính để tồn tại
– Thể hiện bản chất thâm hiểm, gian hùng của Bá Kiến

8. Ý nghĩa chi tiết: “Hình như có 1 thời hắn đã ước ao có 1 gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải…”
– Thể hiện phần tốt đẹp, lương thiện không bao giờ mất đi trong con người Chí. Việc Chí nhớ lại cái ước mơ thuở nào đánh dấu quá trình thức tỉnh và khát khao trở thành người lương thiện của anh.
– Thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm khi nhà văn phát hiện, nâng niu, trân trọng những phần tốt đẹp bị khuất lấp, bị lãng quên, bị vùi sâu bên trong cái vẻ ngoài độc dữ, thú vật của Chí.
– Thể hiện tài năng trong nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn.

9. Ý nghĩa chi tiết cái lò gạch cũ
– Xuất hiện mở đầu và kết thúc tác phẩm tạo nên kiểu kết cấu vòng tròn (kết cấu đầu cuối tương ứng), khẳng định một quy luật xã hội khốc liệt: chừng nào chưa thay đổi tận gốc xã hội thì hiện tượng Chí Phèo sẽ vẫn còn tồn tại.
– Thể hiện cái nhìn hiện thực sâu sắc, toàn diện của nhà văn.

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Advertisements

Kĩ năng làm câu 2 điểm trong cấu trúc Đề thi ĐH-CĐ

aodaitrang08

 

Kĩ năng làm câu 2 điểm trong Đề thi ĐH-CĐ

 

1. Phân loại và nhận dạng (Nội dung)

Dạng 1: Hỏi về một chi tiết cụ thể trong tác phẩm

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2011

Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?

VD2: Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2010

Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, việc nhân vật Tràng “nhặt” được vợ đã khiến cho những ai ngạc nhiên? Sự ngạc nhiên của các nhân vật đó có ý nghĩa như thế nào về nội dung và nghệ thuật?

VD3: Câu 1 (2,0 điểm) ĐH C-2012

Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), ở phần nói về thượng nguồn sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví vẻ  đẹp của dòng sông này với hình  ảnh hai người phụ nữ,  đó là những hình  ảnh nào?  Ý nghĩa của những hình ảnh ấy?

VD4: Câu 1 (2,0 điểm) ĐH D-2012

Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?

VD5: Câu I (2,0 điểm) CĐ – 2011

Trong phần đầu vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nguyên nhân nào dẫn đến cái chết bất ngờ của nhân vật Trương Ba? Kết thúc vở kịch (cảnh VII), Hồn Trương Ba đã tự quyết định về sự sống, chết của chính mình như thế nào? Nêu ngắn gọn ý nghĩa nội dung lời thoại của nhân vật Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

VD6: Câu I (2,0 điểm) CĐ-2012

Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ? Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa như thế nào?

VD7: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2012

Trong phần cuối tác phẩm Số phận con người, nhà văn M. Sô-lô-khốp viết:

Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…

(Ngữ văn 12, Tập hai, tr.123, NXB Giáo dục – 2008)

Hai con người được nói đến ở trên là những nhân vật nào? Vì sao tác giả gọi họ là hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn có ý nghĩa gì?

VD8: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2011

 Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

 

Dạng 2. Hỏi về một/một số đặc điểm nổi bật (về ND hoặc NT hoặc cả hai) của tác phẩm

VD1:  Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2011

Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009), Tố Hữu đã  sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện  đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?

VD2: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2009

Anh/chị hãy nêu những nét chính về tình cảm nhân  đạo và bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.

VD3: Câu I (2,0 điểm) CĐ-2010

  Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

 

Dạng 3. Hỏi về Tác giả

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH C-2010

Anh/chị hãy trình bày ngắn gọn về sự đa dạng mà thống nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh.

VD2: Câu I (2 điểm) ĐH D-2008

Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám. 

VD3: Câu I (2 điểm) ĐH C-2008

Anh/ chị hãy giới thiệu ngắn gọn về hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc của Tố Hữu.

VD4: Câu 1. (2,0 điểm) TN-2010

Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn M. Sô-lô-khốp.

 

Dạng 4. Hỏi về một vấn đề văn học sử

VD1: Câu I (2,0 điểm) ĐH D-2009

Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.  Anh/chị hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.

 VD2: Làm gì có. Vì dạng này tuy không “quý” nhưng lại thực sự “hiếm”.

2. Kĩ năng làm bài (Cách trình bày)

Yêu cầu chung:

Thời gian thực hiện: không nên vượt quá 25 phút

– Nội dung: ĐÚNG và ĐỦ

– Hình thức:

+ Ngắn gọn, súc tích, rõ ràng. Ngôn từ, diễn đạt không cần văn hoa nhưng trình bày phải logic, trôi chảy.

+ NÊN trình bày thành những đoạn văn ngắn, có câu mở đầu giới thiệu chung vấn đề và có câu kết đánh giá ý nghĩa, giá trị của vấn đề.

– Cách làm:

+ Gạch nhanh các ý chính ra nháp (1 – 3 phút). Sắp xếp ý theo trình tự hợp lí. Các ý có thể chưa đầy ĐỦ nhưng phải là những ý ĐÚNG. Trong quá trình làm bài, có thể sẽ nhớ ra những ý còn thiếu.

+ Trình bày bài viết, đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức.

+ Khi đã làm xong câu 1, chuyển sang câu khác mà nhớ ra những ý còn thiếu của câu 1: ghi lại những ý thiếu ra nháp, sau khi hoàn thành câu đang làm dở, bổ sung nội dung cho câu 1. Ghi vào bài thi như sau: Câu 1 (Bổ sung)

KĨ NĂNG LÀM TỪNG DẠNG BÀI

Dạng 1: Hỏi về một chi tiết/hình ảnh trong tác phẩm

Tùy theo từng đề cụ thể, song về cơ bản, bài làm cần đảm bảo các nội dung sau:

– Tái hiện lại các chi tiết/hình ảnh/sự kiện trong tác phẩm: cần viết chính xác, đầy đủ các chi tiết liên quan. Tốt nhất là trích dẫn nguyên văn một (vài) đoạn độc đáo, ấn tượng, thể hiện rõ nét đặc sắc của chi tiết/hình ảnh ấy (các trích dẫn trực tiếp cần cho vào dấu ngoặc kép ” “). Nếu không thể trích dẫn trực tiếp có thể gián tiếp kể/tả lại chi tiết/hình ảnh đó.

– Nêu ý nghĩa của chi tiết/hình ảnh:

+ Ý nghĩa về nội dung (làm nổi bật tính cách nhân vật, thể hiện sống động nội dung, chủ đề, tư tưởng tác phẩm …)

+ Ý nghĩa về nghệ thuật (góp phần vào nghệ thuật xây dựng nhân vật, thúc đẩy cốt truyện, thể hiện phong cách/tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn …)

Dạng 3, 4 : Tự “chém” vì yêu cầu không quá phức tạp, chủ yếu là học thuộc và ghi nhớ nội dung trong Sách giáo khoa.

Riêng Dạng 2 cần có sự tổng hợp kiến thức và thực sự nắm chắc nội dung và đặc sắc nghệ thuật của các tác phẩm. Đôi khi đề ra có đề cập đến một vài khái niệm lí luận văn học (nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, tình huống truyện, cốt truyện, kết cấu, tính sử thi, cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa nhân đạo/hiện thực, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ….), các em cần trang bị cho mình kiến thức về các khái niệm này làm công cụ vì sẽ còn sử dụng rất nhiều trong quá trình học/thi. Khi nào rảnh rang thầy sẽ viết kĩ hơn về dạng này.

Thế đã nhỉ.

(Thầy Nguyễn Phi Hùng)

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

Bài 02. Người lái đò sông Đà – một thiên tùy bút có thần

BÀI LÀM

Sông Đà – một trận đồ tự nhiên hùng vĩ, được xây dựng bằng hai chất liệu nước và đá, lỏng và cứng, cuồn cuộn tuôn dài, nhấp nhô ngang dọc mà tạo hoá đã ban cho vùng Tây Bắc nước Nam ta. Công trình tự nhiên ấy đã và đang biến đổi theo thời gian. Còn một công trình Sông Đà nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ mà Nguyễn Tuân đã để lại cho lịch sử văn học Việt Nam, để lại cho đời trên trang tuỳ bút thì mãi mãi vẫn còn nguyên vẹn, vẹn nguyên.

Đọc Người lái đò Sông Đà, ta như gặp được một cây đại bút “thông tạo hoá” và một ông đò cũng “thấu càn khôn”. Cả hai đều thấu hiểu sự ảo diệu của tự nhiên, đều nắm vững quy luật xung – hợp, sinh – khắc chế hoá lẫn nhau của vũ trụ. Trên trang tuỳ bút, Sông Đà vừa cất giấu, vừa phô bày vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá – một vẻ đẹp vừa hung hãn, như hoang dại lại như tình tứ mộng mơ. Ông đò Lai Châu vừa là người lao động lực lưỡng, gân guốc, vừa là nghệ sĩ tài ba. Nhiều lúc ta như thấy Nguyễn Tuân hoá thân vào ông đò Lai Châu. Tay lái của ông đò cảm đâu là ứng đó, ứng đâu là hành đó không sớm cũng không muộn, qua bao thác ghềnh vẫn cứ bình an. Phải chăng trời đã cho ông tuệ nhãn? Thân hình ông khoẻ mạnh “gọn quánh như chất sừng, chất mun”. Ông còn là nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh. Chất nghệ sĩ trong ông là ở cánh tay chèo lái là ở đôi chân giữ thế tạo đà cứ như là vũ điệu vừa nhịp nhàng vừa ăn ý với bản nhạc giao hưởng của nước sông, của đá núi, của gió ngàn. Nhưng cái chính của chất nghệ sĩ trong ông là lòng yêu đời, yêu nghề, say mê khám phá sự huyền diệu cứ bay lên với đôi cánh lãng mạn. Miêu tả ông lái đò Lai Châu, Nguyễn Tuân muốn gửi đến người đọc những thông điệp gì? Cuộc sống không phải lúc nào cũng như khúc sông phẳng lặng mà có lúc, nhiều lúc thác ghềnh. Sống là phải biết chấp nhận, phải bơi lội, chèo lái để vượt qua thác, băng qua ghềnh chứ không phải là kéo thuyền lên bờ để ngắm nhìn để chờ đợi? Những đoạn văn Nguyễn Tuân miêu tả ghềnh thác ở Sông Đà làm cho người đọc vừa sợ lại vừa yêu, vừa muốn lánh xa lại vừa muốn lăn vào. Đây là ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số: “Nước xô đá đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”. Và đây nữa: “…. còn xa lắm mới đến cái thác dưới nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lên, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa.” “Sóng thác đã đánh đến đòn độc hiểm nhất…. Mặt sông trong tích tắc loé sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng… Ông đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Nguyễn Tuân vừa biết dùng người, viết câu hay, tả cảnh hợp, tả tình sâu nên cuốn hút người đọc và tôn vinh vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên. Văn của Nguyễn Tuân đúng là như thế vừa “chân nhân” vừa “chân trí” – một thứ văn ngang dọc. Tai nghe tiếng nước, mắt ngắm xoáy sâu, câu văn đã dứt mà âm thanh vẫn còn vang vọng, khí văn vẫn còn phảng phất như khói mây. Vượt qua 73 thác ghềnh, ông đò Lai Châu vẫn đĩnh ngộ thông tuệ, không để luỵ tâm, không làm tổn trí. Đi thuyền không sợ thác ghềnh vừa là dũng lược vừa là mưu lược của Nguyễn Tuân và ông đò Lai Châu. Nguyễn Tuân quan sát ông đò chèo lái con thuyền then vuốt đuôi én, giống như thầy trò Khổng Tử xem người đàn ông bơi ở Lã Lương. Nguyễn Tuân cùng với người lái đò Sông Đà vừa tìm kiếm vừa khám phá, vừa chinh phục lại vừa tôn vinh. “Thạch trận” trên Sông Đà. Cách xa Nguyễn Tuân, cách xa chúng ta mấy trăm năm về trước, Nhà Bác học, Nhà Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn cũng đã viết về sông Đà. Bên cạnh những ghềnh thác hiểm trở, Lê Quý Đôn còn cho ta biết nhiều tư liệu kỳ thú: “Hạ lưu Vạn bờ… có núi Ngải trước mặt trông ra sông Đà, đối ngạn là xứ Ngòi Lạt, trên núi có cây Ngải Tiên. Mùa xuân hoa rụng xuống nước, cá uống nước này liền vượt được Long Môn hoá rồng… sông Đà nước sông trong suốt, chảy xuống các động Phà Tây, Hảo Tề thuộc châu Quỳnh Nha… Đường sông thác ghềnh hiểm trở, gồm 83 thác có tiếng mà Vạn bờ là thác nguy hiểm thứ nhất” (Kiến văn tiểu lục – trang 345)

Nguyễn Tuân đã không còn để pha màu, chế bản, tạo hình tôn vinh những mẫu đẹp cho đời đã 20 năm nay nhưng trên những trang viết chứa học thuật, tụ tinh hoa, phong độ Nguyễn Tuân vẫn như núi đứng, tinh thần Nguyễn Tuân vẫn như mây bay. Những bản nhạc của nước của đá, của thác của ghềnh, người đọc, người học lắng nghe để mà nghĩ tới cái âm vang sâu thẳm nơi cõi lòng tác giả? Ghềnh sông dài, thác sông lớn, xoáy nước sâu đã khơi dậy những gì tiềm ẩn nơi sâu kín nhất, u linh nhất của tác giả và ông đò Lai Châu. Ghềnh và thác trong tự nhiên cũng là ghềnh và thác trong cuộc sống đã bung nở trong nhãn tuệ của Nguyễn Tuân để Nguyễn Tuân gửi tới người đọc, người học qua thiên tuỳ bút có thần.

(Nguồn: Sưu tầm)

Giới thiệu chung về Vợ nhặt của Kim Lân

Image

VỢ NHẶT  

  Kim Lân

Được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại, Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực khốc liệt của một sự kiện đã và sẽ hằn in trong tâm trí người Việt như chứng cứ cho tội ác của bọn thực dân phát xít: nạn đói khủng khiếp năm 1945. Giữa cảnh “giời đất tối sầm lại vì đói”, người ta tưởng như con người sẽ giẫm đạp lên nhau, tranh giành cướp đoạt lẫn nhau, bán rẻ cả lương tâm, cả lòng tự trọng để kiếm miếng ăn hòng trụ vững trong cơn đói khát nhưng ngược lại, người đọc bắt gặp trong trang viết Kim Lân những con người tuy nghèo khó, nhưng sẵn sàng cúi xuống nâng đỡ, đùm bọc, cưu mang người khác, những con người đang ở bờ vực của cái chết nhưng chỉ nói về sự sống, nói về tương lai, nói về những sung sướng về sau …

Bài văn tham khảo

Bài 01. Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt của Kim Lân

Bài 02. Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Bài 03. Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Bài 04. Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Bài 05. Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Bài 06. Phân tích vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

Bài 07. Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những hình ảnh kết thúc truyện Chí Phèo của Nam Cao và truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.


Câu hỏi ôn tập trọng tâm thi Tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng

Câu 01Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt của Kim LânCâu 02Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Câu 03Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Câu 04Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Câu 05Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Câu 06Phân tích vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

Câu 07. Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh: “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua...”  (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155) 

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới...”  (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32) 

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên. 

Câu 08. Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, việc nhân vật Tràng “nhặt” được vợ đã khiến cho những ai ngạc nhiên? Sự ngạc nhiên của các nhân vật đó có ý nghĩa như thế nào về nội dung và nghệ thuật?  

 

Giới thiệu chung về Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Song Huong

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

–  Hoàng Phủ Ngọc Tường

Với kho vốn cảm xúc, kiến thức, tưởng tượng và trải nghiệm thực tế lại cộng thêm vốn chữ nghĩa dồi dào mà rất đẹp, rất thơ, rất công phu, trau chuốt thậm chí đôi khi còn hơi làm dáng điệu đà, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thực sự mê hoặc được người đọc để hoàn toàn chủ động trong việc dẫn dắt người đọc đi theo nhà văn để hào hứng thưởng thức vẻ đẹp của một dòng sông không phải như con sông địa li vô tri mà như một con người – một người con gái có nhan sắc, có tâm hồn, có sức sống và cũng đầy sức mạnh để đi hết cuộc hành trình, sống trọn vẹn đời sống và khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh và lý tưởng của nó. Ai đã đặt tên cho dòng sông? chính là món quà, là tình yêu của một người con xứ Huế dành tặng cho thành phố thân yêu.

Bài văn tham khảo

Bài 01. Phân tích vẻ đẹp của dòng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Bài 02. Tiếp cận và phân tích văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường. 

Bài 03. Phân tích hình tượng cái tôi tác giả trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.


Câu hỏi ôn tập trọng tâm thi Tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng

Câu 1. Trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.Câu 2. Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), ở phần nói về thượng nguồn sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví vẻ  đẹp của dòng sông này với hình  ảnh hai người phụ nữ,  đó là những hình  ảnh nào?  Ý nghĩa của những hình ảnh ấy?Câu 3.  Phân tích hình tượng dòng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường (sách Ngữ văn 12, tập một).Câu 4. Phân tích hình tượng cái tôi tác giả trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường (sách Ngữ văn 12, tập một).Câu 5. Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)

 (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao,

Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 157)
   (…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả (…)
          (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường,
                         Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)