Đề thi thử THPT Quốc gia lần I – THPT Anhxtanh

KÌ THI THỬ THPT – LẦN 1

Thời gian làm bài: 180 phút

 

  1. PHẦN ĐỌc hiỂu (3,0 điểm)
    Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4

Tại buổi tọa đàm “Tác hại của rượu, bia và giải pháp” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với HealthBridge Canada tổ chức chiều 19/10, bà Hoàng Anh, Giám đốc HealthBridge Canada cho biết, theo thống kê mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ hơn 3 tỷ lít bia và gần 68 triệu lít rượu, tương ứng chi phí khoảng 3 tỷ USD/năm.

Nghiên cứu ảnh hưởng của rượu bia đến đói nghèo và đặc điểm của các gia đình sử dụng rượu bia thường xuyên tại Việt Nam cho thấy, 57,72% hộ  gia đình Việt thường xuyên dùng rượu bia và càng những hộ gia đình giàu có, có học vấn cao tiêu dùng rượu bia càng nhiều hơn.

Ở các gia đình sống dưới ngưỡng nghèo, số tiền chi cho rượu bia tương đương 146 cốc bia rượu/năm, trong khi số tiền mua sữa cho trẻ em ở các gia đình này chưa đủ mua một cốc sữa tươi/năm.

Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam giai đoạn 2010 cho thấy,  gần 67% người lái xe ô tô và 36% người đi xe máy nhập viện vì chấn thương giao thông, có nồng độ cồn cao hơn mức cho phép. 1/5 các trường hợp tử vong do TNGT ở Việt Nam có nguyên nhân từ rượu bia.

Ngoài ra, rượu bia cũng là nguyên nhân lớn nhất gây ra trên 33% các vụ bạo lực gia đình ở Việt Nam. Người say rượu bia cũng dễ dàng xúc phạm, lăng mạ, mắng chửi trẻ em; bỏ mặc chăm sóc trẻ, thậm chí đánh đập, gây đau đớn về thể xác…

(Theo baogiaothong.vn đăng tải ngày 21/10/2015)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

Câu 2. Theo thông tin từ bài báo, việc uống rượu bia đã mang đến những tác hại gì?

Câu 3. Theo anh/chị, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng người Việt uống nhiều rượu bia đến vậy?

Câu 4. Anh/chị hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 câu) đề xuất những kiến nghị, giải pháp để hạn chế tác hại do việc uống rượu bia gây ra.

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6:

Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng

Trái tim em, anh đã từng biết đấy

Anh là người coi thường của cải

Nên nếu cần anh bán nó đi ngay

 

Em cũng không mong nó giống mặt trời

Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống

Lại mình anh với đêm dài câm lặng

Mà lòng anh xa cách với lòng em

Em trở về đúng nghĩa trái tim

Biết làm sống những hồng cầu đã chết

Biết lấy lại những gì đã mất

Biết rút gần khoảng cách của yêu tin

………..

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em

Là máu thịt, đời thường ai chẳng có

Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

                                    (Tự hát, Xuân Quỳnh)

Câu 5. Trong khổ thơ đầu, tại sao “em” không ước trái tim mình bằng vàng? Từ đó, nhà thơ thể hiện quan niệm của mình về tình yêu như thế nào?

Câu 6. Ở khổ thơ thứ hai, “em” lại không mong trái tim mình giống mặt trời. Lí lẽ của nhà thơ là gì?

Câu 7. Hai khổ thơ đâu tác giả dùng cách nói phủ định để đến hai khổ thơ sau khẳng định ước vọng tha thiết của mình: “trở về đúng nghĩa trái tim”. Trái tim ấy có đặc điểm gì?

Câu 8. Câu thơ “Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” dường như một nghịch lí. Nhưng từ cái tưởng như “phi lí” ấy, người đọc nhận ra được điều gì rất “có lí” về trái tim người phụ nữ khi yêu?

Trong bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh cũng mượn một sự phi lí để nói cái có lí của tâm trạng người phụ nữ khi yêu. Anh/chị hãy chép lại câu thơ trong bài thơ Sóng thể hiện điều đó.

  1. PHẦN Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”

Anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Câu 2 (4,0 điểm) Nói về truyện ngắn Rừng xà nu (của Nguyễn Trung Thành), có ý kiến cho rằng tác phẩm tái hiện vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của thiên nhiên, núi rừng Tây Nguyên. Nhưng cũng có ý kiến khác khẳng định truyện ngắn tập trung ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất của con người Tây Nguyên những năm đánh Mĩ.

Dựa vào hiểu biết của mình về truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, anh/chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của anh/chị về những ý kiến trên.

ĐỀ LUYỆN SỐ 04

ĐỀ LUYỆN SỐ 04

 

que huong viet nam

 

Phần một. Đọc hiểu văn bản (3 điểm)

Câu 1. (1 điểm) Câu truyện sau gồm các đoạn văn được đánh số nhưng đã bị đảo lộn trật tự. Anh/Chị hãy sắp xếp lại cho đúng để có một câu truyện hoàn chỉnh.

Hà Bá lấy vợ

(1) Lúc bấy giờ bao nhiêu người đều xám xanh mặt lại van lạy xin thôi. Tây Môn Báo nói: “Để thong thả ta xem đã…”. Mọi người run như cầy sấy. Một chốc ông mới bảo: “Thôi tha cho. Thế là Hà Bá không lấy vợ nữa rồi.”

(2) Một lúc, ông nói: “Sao không thấy tin tức gì cả? Chừng lũ đồng cốt xuống nói không nên lời. Dám phiền các cụ bô lão đi giúp cho. Lại lập tức lôi một cụ vứt xuống sông.

(3) Dân đất Nghiệp có tục cứ mỗi năm góp tiền mua một người con gái ném xuống sông để làm vợ cho Hà Bá. Sự mê tín ấy có đã lâu ngày, không ai phá nổi.

(4) Một lúc, ông nói: “Sao lâu thế này!”. Rồi ông bảo đám bà cốt xuống nói hộ. Lập tức sai lính bắt một bà cốt ném xuống sông.

(5) Thành thử từ đây đất Nghiệp không ai dám nhắc chuyện Hà Bá lấy vợ nữa.

(6) Một lúc, ông nói: “Sao mãi không thấy về thế này? Bọn đồng cốt, bô lão dễ đi cũng không được việc. Phải nhờ đến bậc hào trưởng mới xong.”

(7) Lúc ông Tây Môn Báo  đến làm quan đấy, ông thân hành ra đứng làm chủ lễ cưới cho Hà Bá. Trước mặt đông đủ cả bô lão, hào trưởng, ông đồng bà cốt, ông cho gọi người con gái đến. Ông xem mặt xong, chê rằng: “Người con gái này không được đẹp! Ta nhờ bọn ông đồng xuống nói với Hà Bá xin hoãn lại hôm khác để tìm người đẹp hơn.” Ông lập tức sai lính khiêng một ông đồng quẳng xuống sông.

Câu 2.  (2 điểm)

Quê hương là vàng hoa bí

Là hồng tím giậu mồng tơi

Là đỏ đôi bờ dâm bụt

Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

                    (Quê hương – Đỗ Trung Quân)

a. Đoạn thơ trên sử dụng những biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của các biện pháp tu từ đó.

b. Theo cảm nhận và lí giải của anh/chị, tại sao “Quê hương nếu ai không nhớ – Sẽ không lớn nổi thành người“?

Phần hai. Làm văn (7 điểm)

Câu 1. (3 điểm)

Giả sử có một cuộc thi viết với chủ đề “Đi tìm biểu tượng của nước Việt Nam” và bạn tham gia cuộc thi đó. Bạn sẽ chọn nhân vật/sự kiện/hình ảnh … gì làm biểu tượng cho đất nước mình?

Hãy viết bài văn ngắn (khoảng 400 từ) nêu rõ lí do vì sao bạn lựa chọn như vậy.

Câu 2. (4 điểm)

Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

 

(Trích đề thi học kì II, lớp 12 – THPT Anhxtanh)

ĐỀ ĐỌC HIỂU SỐ 06

ĐỀ ĐỌC HIỂU SỐ 06

 

Nguoi Viet Nam

Câu 1.

Cho đoạn văn:

Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh dờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng dọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người, lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che trở cho làng…

(Theo Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục)

1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?

2. Phát hiện và sửa các lỗi chính tả trong đoạn văn.

3. Các câu văn trong đoạn văn trên liên kết với nhau bằng những phép liên kết nào? Chỉ ra các phương tiện liên kết.

4. Trong đoạn văn, tác giả sử dụng những biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của các biện pháp ấy.

5. Nêu nội dung chính của đoạn văn trên và đặt tên cho đoạn văn.

Câu 2.

Cho câu thơ:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

1. Chép thuộc lòng 11 câu thơ tiếp theo và cho biết đoạn thơ vừa chép trích trong tác phẩm nào? của ai?

2. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của biện pháp ấy.

3. Tác phẩm tập trung khẳng định tư tưởng Đất Nước của nhân dân. Trong đoạn thơ này, nhân dân hiện lên với những đặc điểm, phẩm chất gì?

4. Việc liệt kê các địa danh, sơn danh,thủy danh trong đoạn thơ có gì đặc biệt?

5. Để đất nước có được hình hài như ngày hôm nay, biết bao thế hệ cha ông đã bền bỉ dựng xây, bảo vệ, đã “góp” phần nhỏ bé của mình cho đất nước trường tồn. Là những chủ nhân của đất nước thời hiện đại, anh/chị đã và sẽ “góp” những gì cho đất nước?

Hãy viết bài văn ngắn về chủ đề: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta – Mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc“.

ĐỀ LUYỆN TẬP SỐ 05

Đề luyện tập số 05

 

 Tuyen ngon DL

Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh được đánh giá là văn kiện lịch sử vô giá đồng thời được xem như áng văn chính luận mẫu mực mở đầu cho một giai đoạn mới trong nền văn học cách mạng Việt Nam. Anh/Chị vui lòng trả lời những câu hỏi bên dưới để thể hiện hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh, về nội dung và nghệ thuật của Tuyên ngôn Độc lập đồng thời thể hiện kĩ năng đọc – hiểu văn bản và tạo lập văn bản.

Câu 1

Đọc đoạn văn sau:

Lựa chọn văn chương làm con đường duy nhất để lập thân, lập nghiệp, Hồ Chí Minh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp văn học đồ xộ về số lượng tác phẩm, phong phú về thể loại và độc đáo về bút pháp nghệ thuật. Ở thể loại văn chính luận, các tác phẩm như: Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu… Văn chính luận của người ngắn gọn, xúc tích, có lí lẽ sắc bén, lập luận khâm phục, dẫn chứng sác thực, ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm. Trong nhóm các thể loại truyện và kí, nổi bật các tác phẩm: Vi hành, Nhật kí trong tù, Lời than vãn của bà trưng trắc… Nhiều tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Pháp sử dụng phương pháp rất hiện đại, mang đậm chất trào phúng và có sức mạnh phê phán, có tính chiến đấu mạnh mẽ. Về thơ ca, tất thảy các bài thơ của Người đều dành phục vụ quần chúng nhân dân nên Bác lựa chọn thứ ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động với hình thức thơ ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ phổ biến để phục vụ công tác tuyên chuyền những chủ trương của cách mạng và kháng chiến.

Trong đoạn văn trên còn một số lỗi về kiến thức, lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp. Anh/Chị hãy chỉ ra và sửa lại các lỗi đó.

Câu 2.

a. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới. Đó là những bản Tuyên ngôn nào? Nêu tác dụng của việc trích dẫn đó.

b. Cho các từ: chính nghĩa, bình đẳng, nhân đạo, tự do, bác ái

Điền các từ trên vào chỗ trống để hoàn thành câu văn trích từ bản Tuyên ngôn:

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ ………(1), …….. (2), ………(3), đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với ……. (4) và ……… (5).

c. Cho đoạn văn:

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó.

d. Đọc đoạn văn:

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

Trong đoạn văn trên, cụm từ “sự thật là” được lặp lại tới hai lần nhằm nhấn mạnh điều gì? Điều ấy có tác dụng gì đối với việc tuyên bố quyền độc lập của nước ta?

e. Nước Việt ta từ ngày lập quốc đã phải đối diện với biết bao kẻ thù ngoại xâm nhưng vẫn vững vàng bởi bao thế hệ nhân dân, những người “không ai nhớ mặt đặt tên” đã luôn sẵn sàng “có ngoại xâm thì đánh ngoại xâm, có nội thù thì vùng lên chống lại”. Nguyện vọng thiết tha và quyết tâm của toàn dân tộc muốn bảo vệ nền độc lập, tự do ấy đã được Hồ Chí Minh tổng kết trong một câu kết thúc bản Tuyên ngôn. Anh/Chị hãy chép lại câu văn đó.

f. Ngoài bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh cùng những bản Tuyên ngôn được nhắc đến trong văn bản này, anh/chị còn biết những bản Tuyên ngôn hoặc những bài phát biểu nổi tiếng nào của các nhà chính trị, nhà văn hóa trên thế giới? Nêu tên bài Tuyên ngôn/bài phát biểu và tác giả/người phát biểu.

Câu 3. Anh/Chị hãy viết bài văn ngắn với chủ đề: Khi Tổ quốc gọi …

Tổng quan văn học Việt Nam

 Tam coc Bich dong

Lịch sử văn học dân tộc ta cũng giống như một dòng sông…

PHẦN MỘT. “SÔNG CÓ KHÚC …”(Tục ngữ Việt Nam)

 1. Khúc thượng nguồn : văn học dân gian.

–  Đó là những sáng tác tập thể của nhân dân lao động, được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền qua lời kể (truyện), lời hát, lời ngâm (thơ). VHDG có các thể loại tiêu biểu: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ, câu đố, chèo …

–  VHDG là mạch nguồn trong trẻo, mát lành, sâu thẳm nhất, mạnh mẽ nhất, ngày đêm âm thầm, bền bỉ góp nước cho dòng sông văn học.

2. Khúc trung lưu : văn học viết.

–   Đó là các sáng tác của người trí thức, mang dấu ấn cá nhân tác giả và được ghi lại bằng chữ viết. Trong lịch sử văn học dân tộc, người Việt Nam chủ yếu dùng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ để sáng tác văn học. Văn học viết có các nhóm thể loại tiêu biểu: các thể loại tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí …), các thể loại trữ tình (thơ, hát nói, trường ca,…), các thể loại kịch (kịch nói, kịch thơ, kịch bản điện ảnh, sân khấu …).

–   Phân kì văn học viết: có thể chi làm 2 thời kì: Văn học trung đại và Văn học hiện đại

  2.1. Văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ X-XIX)

–  Bối cảnh lịch sử, văn hóa: Đất nước đã giành được quyền độc lập tự chủ nhưng vẫn thường xuyên phải đối diện với nguy cơ ngoại xâm từ phương bắc. Trong nước, tầng lớp phong kiến lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc (khi có ngoại xâm) nhưng vẫn bóc lột nhân dân lao động, tranh giành quyền bính, chém giết lẫn nhau. Văn học (rộng ra là văn hóa) Việt Nam thời kì này chịu nhiều ảnh hưởng của văn học (văn hóa) Trung Quốc (từ ngôn ngữ, thể loại cho đến nội dung, hình thức biểu đạt …)

–  Các bộ phận: Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm

–  Đặc điểm: Thể hiện chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân đạo.

–  Gương mặt tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du …

  2.2. Văn học hiện đại Việt Nam (thế kỉ XX đến nay)

–  Bối cảnh lịch sử, văn hóa: Thời kì của những biến động lịch sử to lớn: đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, Cách mạng tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập nhưng chưa hòa bình, thống nhất, phải trải qua 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ để thống nhất non sông. Vượt qua hơn 10 năm thời kì bao cấp, đất nước tiến hành Đổi mới và bước đầu đạt được nhiều thành tựu. Văn học (văn hóa) Việt Nam thời kì này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phương Tây, bắt đầu gia nhập vào quỹ đạo chung của quá trình hiện đại hóa, hòa nhập cùng thế giới. Văn học chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ.

–  Các giai đoạn phát triển: 1900-1930 (giai đoạn giao thời), 1930-1945 (VHVN hiện đại trước CMT8), 1945-1975 (Văn học kháng chiến), 1975 – nay (văn học thời kì đổi mới)

–  Đặc điểm văn học: Vẫn là sự tiếp nối dòng mạch yêu nước và nhân đạo thời trung đại nhưng có thêm những nét mới: đi sâu khám phá con người cá nhân, đề cao tinh thần dân chủ.

3. Khúc hạ lưu: đang chờ các em viết tiếp.

 

PHẦN HAI: “HÃY TỰ HIỂU CHÍNH NGƯƠI”(Danh ngôn khắc trên đền thờ thần Apollo)

          Nhà văn M.Gorki từng nói: “Văn học là nhân học“. Quả vậy, tác phẩm văn học, dù là đồ sộ như những bộ sử thi Ấn Độ, Hi Lạp với hàng vạn câu thơ hay ngắn gọn súc tích như một bài thơ Hai-kư (Nhật Bản) chỉ với 17 âm tiết, dù là câu chuyện về thánh thần, tiên bụt, ma quỷ, đồ vật hay sinh vật, cũng đều lấy CON NGƯỜI làm trung tâm phản ánh. Con người là chủ thể sáng tạo nên tác phẩm và cũng chính là đối tượng khám phá của tác phẩm.

         Vậy bản chất con người là gì? K.Marx trả lời: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội“. Văn học Việt Nam thể hiện hình ảnh con người Việt Nam dưới 4 mối quan hệ cơ bản sau:

1. Con người trong quan hệ với thế giới tự nhiên

         Người Việt Nam vốn sống hài hòa, gắn bó và rất yêu thiên nhiên. Trong văn học dân gian, thiên nhiên vừa là đối tượng nhận thức, cải tạo, chinh phục vừa là một phần không thể thiếu tạo nên vẻ đẹp quê hương cũng như tình yêu đôi lứa. Trong văn học trung đại, thiên nhiên còn được xem là bạn tri âm tri kỉ, là chuẩn mực của vẻ đẹp, của cốt cách con người, là phương tiện để con người kín đáo gửi gắm tâm tình (tả cảnh ngụ tình).

2. Con người trong quan hệ với xã hội

         Người Việt ta vốn có truyền thống tương thân tương ái, yêu thương, đùm bọc, chở che đồng bào, đồng loại. Đó chính là cội nguồn sâu xa của chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm văn chương. Tư tưởng ấy được thể hiện trước hết ở niềm yêu thương, cảm thông, trân trọng và tin tưởng vào con người, vào phần tốt đẹp và sức mạnh của con người. Đồng thời với tình yêu là niềm căm phẫn, tố cáo những thế lực trà đạp, đày đọa con người và niềm ước mơ về một xã hội công bằng, nơi mọi người được phát triển toàn diện, được hạnh phúc.

3. Con người trong quan hệ với quốc gia, dân tộc

         Không một dân tộc nào trên thế giới phải thường xuyên chiến đấu chống giặc ngoại xâm như dân tộc ta. Chính vì vậy, từ rất sớm, ý thức về quốc gia, dân tộc của người Việt đã được hình thành và tinh thần yêu nước luôn luôn chảy trong huyết quản của bao nhiêu thế hệ. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành một trong những nội dung chủ đạo, xuyên suốt các tác phẩm văn chương.  Biểu hiện của tình yêu nước trong văn chương là tình yêu đối với quê hương, làng xóm; là ý thức về bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc; là lòng căm thù với giặc ngoại xâm; là ý chí quyết chiến, sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh … Chạm đến tình yêu nước là chạm vào một phần thiêng liêng nhất trong tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam.

4. Con người trong quan hệ với chính mình

         Tôi là ai? Tôi từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Những câu hỏi ấy không chỉ là độc quyền của triết học mà cũng là một trong những câu hỏi trung tâm của các tác phẩm văn chương. Nhưng hiểu người khác đã khó, hiểu mình còn bội phần khó hơn:

Sông sâu còn có kẻ dò

Có ai bẻ thước mà đo lòng người

Việc con người ý thức về bản thân mình phụ thuộc nhiều vào các học thuyết chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức cũng như những bối cảnh lịch sử cụ thể. Trong hoàn cảnh con người phải đối diện với hoàn cảnh đặc biệt như chống lại các hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt (thiên tai), chống ngoại xâm, nội loạn (nhân họa), con người thường đề cao ý thức xã hội, trách nhiệm công dân, sẵn sàng hi sinh cái tôi để phụng sự cộng đồng.

Trong những hoàn cảnh khác, ý thức về cái tôi cá nhân lại được đề cao. Văn học quan tâm, đề cao những quyền cơ bản của cá nhân: quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do … và tập trung khám phá, thể hiện cái tôi cá nhân với nhiều phương diện đa dạng, phong phú.